Liên hệ chúng tôi
Trung tâm báo chí, Phòng Tuyên truyền Đảng ủy SISU
Tel : +86 (21) 3537 2378
Email : news@shisu.edu.cn
Address :550 phố Đại Liên Tây, Thượng Hải, Trung Quốc
Tin cũ
桥梁:进击的中国跨度| CẦU: HÀNH TRÌNH CHINH PHỤC KHẨU ĐỘ CỦA TRUNG QUỐC
24 December 2025 | By viadmin | SISU
桥梁:进击的中国跨度
CẦU: HÀNH TRÌNH CHINH PHỤC KHẨU ĐỘ CỦA TRUNG QUỐC
叁 长虹卧波
III. TRƯỜNG HỒNG VẮT SÓNG
至此,从峡谷到平原,从江河到海峡,似乎都已被中国人跨越,但实际上这还远远不够。面对陡峭的崖壁、湍急的水流或是桥下交通的需要,竖直的桥墩已然无处安放,人们需要一种一跨而过的桥梁,比如“拱桥”。
Đến nay, từ hẻm núi đến đồng bằng, từ sông ngòi đến eo biển, dường như mọi địa hình đều đã được người Trung Quốc chinh phục. Tuy nhiên, trên thực tế, chừng đó vẫn chưa đủ. Trước những vách đá dựng đứng, dòng nước chảy xiết hay yêu cầu bảo đảm giao thông bên dưới cầu, các trụ cầu thẳng đứng không còn chỗ để bố trí. Con người vì thế cần đến một loại cầu “một nhịp” , chẳng hạn cầu vòm.
中国人对拱桥再熟悉不过了。被写进小学课本的赵州桥,建于1400余年前,纵然经历了历史上的战争、洪涝、地震等,其主体结构依然完好,堪称“世界桥梁艺术的典范”。拱桥的形象更是深入人心,不仅成为我国古典园林的标配,也是诗词歌赋中的经典意象:
Người Trung Quốc vốn không xa lạ với cầu vòm. Công trình cầu Triệu Châu được đưa vào sách giáo khoa tiểu học, được xây dựng cách đây hơn 1.400 năm. Trải qua bao thăng trầm lịch sử như: chiến tranh, lũ lụt và động đất, kết cấu chính của cầu vẫn còn nguyên vẹn, được xem là “kiệt tác tiêu biểu của nghệ thuật cầu thế giới”. Hình tượng cầu vòm cũng đã ăn sâu vào tâm trí, không chỉ trở thành yếu tố quen thuộc trong kiến trúc vườn cổ điển Trung Hoa, mà còn là biểu tượng kinh điển trong thơ ca cổ:
长桥卧波,未云何龙;复道行空,不霁何虹。(引自杜牧《阿房宫赋》)
“Trường kiều ngọa ba, vị vân hà long; Phục đạo hành không, bất tễ hà hồng.”
Có nghĩa là: Cầu dài vắt ngang sóng nước, không mây cứ tưởng rồng uốn;
Hành lang treo giữa không trung, chưa tạnh mưa cứ ngỡ cầu vồng.
(Trích “A Phòng cung phú” – Đỗ Mục)
在一座现代拱桥中,根据桥面与主拱拱圈的相对位置,可分为上承式、中承式和下承式拱桥。其中的“拱”结构,在自重和桥面荷载的作用下,将向两端底座释放“张力”。这意味着两端的底座不仅要在竖向上托起桥身,还必须提供横向的推力。正是这样的推力,牢牢抵抗住“拱”的变形,从而提高了拱桥的跨越能力。这是拱桥独特的优势,也是拱桥面临的挑战。
Trong cấu trúc của một cây cầu vòm hiện đại, căn cứ vào vị trí tương đối giữa mặt cầu và vòm chính, có thể chia cầu vòm thành: thượng thừa, trung thừa và hạ thừa. Trong đó kết cấu “vòm”, dưới tác động của trọng lượng vòm và tải trọng mặt cầu, sẽ truyền lực căng ngang về hai chân cầu. Điều này đồng nghĩa với việc chân cầu không chỉ phải đỡ cầu theo hướng thẳng đứng, mà còn phải cung cấp lực đẩy ngang đủ lớn. Chính lực đẩy này giúp khống chế sự biến dạng của vòm, từ đó nâng cao khả năng tăng khẩu độ của cầu vòm. Đây là ưu thế đặc trưng của cầu vòm, đồng thời cũng chính là thách thức lớn nhất trong thiết kế và thi công loại hình cầu này.
武汉晴川桥 / 摄影 潘锐之
Cầu Tinh Xuyên Vũ Hán / Ảnh: Phan Duệ Chi (Pan Ruizhi)
跨越汉江两岸的武汉晴川桥,主跨约303米,是一座下承式钢管混凝土系杆拱桥。系杆拱可以用拉力代替底座的推力,适用于地基较为松软的汉江两岸。
Cầu Tinh Xuyên Vũ Hán bắc qua hai bờ sông Hán, có khẩu độ chính khoảng 303 m, là một cây cầu vòm buộc kiểu hạ thừa bằng ống thép đúc bê tông. Đối với loại cầu vòm buộc, có thể dùng lực kéo của hệ thống thanh buộc thay thế cho lực đẩy ngang tại chân cầu, phù hợp với điều kiện nền đất tương đối mềm nhuyễn ở hai bên bờ sông Hán.
若遇上脆弱的岩石和松软的地基,两端底座便无法提供足够的支撑力。此时,为了满足桥梁跨度,工程师们只能尽量减轻桥梁自重,利用更加“骨感”的外形,以保持底座的稳定。例如由我国首创的混凝土桁(héng,桥梁界业内也读作háng)架拱桥,其纤细的预应力混凝土骨架让桥身变得轻盈,最大跨度可达330米。
Khi gặp nền đá dễ phong hóa hoặc địa chất yếu, mố cầu ở hai đầu thường không thể cung cấp đủ khả năng chịu lực. Trong trường hợp đó, để đáp ứng yêu cầu vượt nhịp, các kỹ sư buộc phải giảm tối đa trọng lượng bản thân của cầu, sử dụng hình thức kết cấu “thanh mảnh” hơn nhằm bảo đảm sự ổn định của mố. Chẳng hạn, cầu vòm giàn bê tông do Trung Quốc sáng tạo lần đầu, với bộ khung bê tông dự ứng lực mảnh mai, giúp thân cầu trở nên nhẹ hơn, nhịp lớn nhất có thể đạt tới 330 m.
不仅如此,在中承式和下承式拱桥中,工程师们还能在拱和梁的交点间固定一“系杆”,以其拉力代替两端底座的推力,是为“系杆拱”。而如果这些系杆足够“强硬”、不易弯折,甚至还能帮助拱结构共同承受桥面的荷载。但无论采取哪种方式,系杆的存在都能让拱桥的底座不再需要提供横向的推力,使之对地形的适应性大为提高。
Không chỉ vậy, ở các cầu vòm trung thừa và hạ thừa, các kỹ sư còn có thể bố trí thanh buộc (hệ treo) tại vị trí giao điểm giữa vòm và dầm, dùng lực kéo của thanh buộc để thay thế lực đẩy ngang tại chân cầu, hình thành loại cầu vòm buộc. Nếu các thanh buộc này đủ “cứng”, không dễ bị uốn cong, thậm chí chúng còn có thể cùng vòm chịu tải trọng mặt cầu. Nhưng, dù áp dụng phương án nào, sự tồn tại của thanh buộc đều giúp chân cầu không còn phải chịu lực đẩy ngang, từ đó nâng cao đáng kể khả năng thích ứng của cầu vòm đối với các điều kiện địa hình phức tạp.
自1993年起,我国的粗钢产量跃居世界首位,桥梁建设逐渐走出了“舍不得用钢”的时代,钢拱桥随之崛起。它们可与桁架、刚构等多种结构进行组合,建造效率和跨越能力大幅提高,不仅创造了一个又一个工程奇迹,而且以其柔美的造型装点着一个又一个城市的风景。
如今,拱桥的跨度已达575米,而接下来登场的角色,将帮助中国人突破1000米的跨度大关。
Từ năm 1993, sản lượng thép thô của Trung Quốc vươn lên đứng đầu thế giới, xây dựng cầu đường cũng dần bước ra khỏi thời kỳ “tiết kiệm thép”. Từ đó cầu vòm thép phát triển mạnh mẽ hơn. Chúng có thể kết hợp linh hoạt với các kết cấu như giàn, dầm cứng…, giúp nâng cao hiệu quả thi công và khả năng tăng khẩu độ, không chỉ liên tiếp tạo nên những công trình kỳ tích, mà còn góp phần tô điểm cảnh quan cho nhiều đô thị bằng dáng vẻ mềm mại, thanh thoát.
Ngày nay, khẩu độ lớn nhất của cầu vòm đã đạt tới 575 m. Nhân vật tiếp theo ra mắt trên sân khấu cầu đường, sẽ giúp Trung Quốc chinh phục cột mốc vượt qua khẩu độ 1.000 m.

南浦大桥 / 摄影 张强
Cầu Nam Phố, Thượng Hải / Ảnh: Trương Cường (Zhang Qiang)
连接上海黄浦区与浦东新区的南浦大桥,于1991年通车,是一座双塔双索面斜拉桥,主跨跨度423米
Cầu Nam Phố là cây cầu kết nối quận Hoàng Phố với Khu mới Phố Đông , Thượng Hải, được hoàn thành vào 1991. Đây là cầu dây văng hai tháp, hai mặt dây, với khẩu độ chính dài 423 m.
杨浦大桥 / 摄影 张强
Cầu Dương Phố Thượng Hải / Ảnh: Trương Cường (Zhang Qiang)
连接上海杨浦区与浦东新区的杨浦大桥,于1993年通车,是一座双塔双索面斜拉桥,主跨跨度602米。
Cầu Dương Phố là cây cầu kết nối quận Dương Phố với Khu mới Phố Đông, Thượng Hải, chính thức thông xe vào năm 1993. Đây là cầu dây văng hai tháp, hai mặt dây, với khẩu độ chính dài 602 m./.
编译Biên dịch:Bùi Thị Tiệp(裴碧捷)
校对Hiệu đính:冯超 (FENG Chao)
排版Sắp chữ:宁笑葳 (NING Xiaowei)
Liên hệ chúng tôi
Trung tâm báo chí, Phòng Tuyên truyền Đảng ủy SISU
Tel : +86 (21) 3537 2378
Email : news@shisu.edu.cn
Address :550 phố Đại Liên Tây, Thượng Hải, Trung Quốc
