Liên hệ chúng tôi
Trung tâm báo chí, Phòng Tuyên truyền Đảng ủy SISU
Tel : +86 (21) 3537 2378
Email : news@shisu.edu.cn
Address :550 phố Đại Liên Tây, Thượng Hải, Trung Quốc
Tin cũ
老官山汉墓织机 | Khung cửi trong lăng mộ Hán ở núi Lão Quan
24 December 2025 | By viadmin | SISU
老官山汉墓织机
Khung cửi trong lăng mộ Hán ở núi Lão Quan
连杆型—勾多综提花木织机,西汉
四川成都老官山汉墓2号墓出土 成都博物馆藏
Khung cửi dệt hoa văn kiểu “móc tông” bằng gỗ; thời Tây Hán
Phát hiện tại mộ số 2, trên núi Lão Quan, thành phố Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên,
Hiện lưu giữ tại Bảo tàng Thành Đô
成都博物馆中摆放的一台巨大的“连杆型—勾多综提花木织机”,是老官山汉墓出土的织机的等比例复原版,大约高3米。在博物馆昏暗的灯光下,它静静地立着,显得庄严且肃穆,但它却又是那么生动,“梭过之后,居然花现”,以这台织机模型,成功复制出了汉代最为著名的“五星出东方”织锦。
Trong Bảo tàng Thành Đô có trưng bày một chiếc Khung cửi dệt hoa văn kiểu “móc tông” bằng gỗ, được phục dựng theo tỷ lệ nguyên bản với chiếc khung cửi đã khai quật từ lăng mộ Hán trên núi Lão Quan Sơn, cao khoảng 3 mét. Dưới ánh đèn vàng mờ ảo trong bảo tàng, chiếc khung cửi nằm yên với vẻ đầy trang nghiêm và tĩnh lặng, nhưng lại mang một sức sống diệu kỳ — “Con thoi lướt qua, hoa liền nở hiện ”. Dựa vào kết cấu mô hình chiếc khung cửi này, người ta đã phục chế thành công tấm gấm thêu “Ngũ tinh xuất Đông Phương” nổi tiếng thời Hán.
它从遥远的汉代而来,又在现代熠熠生辉,携带着两千多年前的纺织智慧,回馈给今人。它的重新问世让绚烂的蜀锦脱掉神秘的外衣,让我们在博物馆中凝神观看时,可以从新的角度理解那一句诗——“花重锦官城”。
Nó đến từ thời nhà Hán xa xôi, nhưng vẫn tỏa sáng trong hiện đại, mang theo trí tuệ dệt vải của hơn hai nghìn năm trước, truyền lại cho hậu thế. Việc tái hiện của chiếc khung cửi này đã gỡ bỏ tấm màn bí ẩn của sản phẩm gấm Thục vang bóng một thời, giúp du khách thăm quan bảo tàng, cảm nhận sâu sắc hơn với khía cạnh mới về ý nghĩa của câu thơ Đỗ Phủ: “Hoa trọng cẩm quan thành”(Hoa nở Cẩm Thành tươi).
一、文物出土情况
I. TÌNH HÌNH KHAI QUẬT DI VẬT
2012年7月至2013年8月,考古队在成都金牛老官山地区的一处西汉古墓进行了一次抢救性的考古发掘。墓主人是个50岁左右的女性,其髋骨严重变形,或与从事纺织活动有关。本次考古发掘出大量文物,其中最重要的便是在2号墓棺木底部发现的四台蜀锦提花机模型。据考证,织机模型的制造时间为西汉景武时期(前188年至前87年),模型由竹木制成,结构精巧复杂。出土的四台织机有大有小,最大的一台高约50厘米,长约70厘米,宽约20厘米,其余三台大小相近,都是高约45厘米,长约60厘米,宽约15厘米。织机的一些部件上还残余着些许丝线和染料,还有用以悬挂综框的绳索。
Từ tháng 7 năm 2012 đến tháng 8 năm 2013, đội khảo cổ đã tiến hành một cuộc khai quật khẩn cấp tại một ngôi mộ Tây Hán trên núi Lão Quan, quận Kim Ngưu, thành phố Thành Đô. Chủ nhân ngôi mộ là một phụ nữ khoảng 50 tuổi, xương hông của bà bị biến dạng nghiêm trọng, có thể do làm nghề dệt vải lâu năm gây nên. Trong lần khai quật này, người ta tìm thấy nhiều hiện vật quý giá, trong đó quan trọng nhất là bốn mô hình khung cửi dệt hoa văn gấm Thục, được phát hiện ở đáy quan tài trong ngôi mộ số 2. Qua nghiên cứu xác định, những mô hình khung cửi này được chế tác vào năm Cảnh Vũ thời Tây Hán, (năm 188 TCN – 87 TCN). Các mô hình được làm bằng tre và gỗ, có kết cấu phức tạp và tinh xảo. Bốn chiếc khung cửi được khai quật có kích thước khác nhau: Chiếc to nhất cao khoảng 50 cm, dài 70 cm, rộng 20 cm. Ba chiếc còn lại cao khoảng 45 cm, dài 60 cm, rộng 15 cm. Trên một số bộ phận của máy vẫn còn dấu vết sợi tơ và thuốc nhuộm, cùng với dây treo dùng để nâng khung tông.
二、织机的结构与发展历程
II. CẤU TẠO VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA KHUNG CỬI
在完整的织机实物出土之前,就已经有很多考古实物证明了我国古代丝织工具和技术的逐步发展。1977年浙江余姚河姆渡村出土的打纬刀、提综杆等原始腰机部件证明了在距今约6900年的新石器时代就有了原始腰机;故宫博物院保藏的一把商代玉戈上残留的雷纹绮遗痕,证明了商代已有提花织物。到了距今约3100年的西周时期,已有了双色丝线提花织物的“锦”(发现二重经锦丝织物的印痕),而简单的织机是无法完成这一工艺的,这说明已有了织锦的复杂机器。
Trước khi khai quật được mẫu khung cửi nguyên vẹn, đã có rất nhiều hiện vật khảo cổ chứng minh các bước phát triển của công cụ và kỹ thuật dệt lụa ở Trung Quốc cổ đại. Năm 1977, tại làng Hà Mỗ Độ, huyện Dư Diêu, tỉnh Chiết Giang, các nhà khảo cổ đã phát hiện dao đập sợi, cần nâng tông, và những bộ phận của khung cửi thắt lưng nguyên thủy, cho thấy từ khoảng 6.900 năm trước (thời kỳ đồ đá mới), người Trung Quốc đã biết sử dụng khung cửi thắt lưng để dệt vải. Tại Bảo tàng Cố Cung có lưu giữ một lưỡi giáo bằng ngọc thời Thương, bên trên có dấu vết họa tiết ‘lôi văn’ trên gấm tơ tằm, cho thấy vào thời Thương, kỹ thuật dệt hoa văn đã xuất hiện. Đến thời Tây Chu cách đây khoảng 3.100 năm trước, người ta đã dệt được gấm hoa hai màu, phát hiện dấu ấn của loại gấm kinh có hai lớp sợi dọc. Công nghệ này khung cửi đơn giản không thể hoàn thành, điều đó chứng tỏ khung cửi dệt gấm đã xuất hiện vào thời này.
1972年发掘的湖南长沙马王堆西汉墓和1982年发掘的湖北江陵马山一号战国楚墓出土了绢、绨、方孔纱、素罗、绮、锦、绦、绣等丝织物,其中不乏大量织锦丝织品,织物结构为二重经锦和三重经锦,可以看出织锦机进一步发展了;其后成都老官山汉墓出土的四架连杆型—勾多综提花织机模型以及新疆尼雅遗址发掘的汉代织锦“五星出东方利中国”锦护膊这样的五重经锦织物更是反映了我国先秦两汉时期丝织提花技术的发达。
Năm 1972, trong lăng mộ Mã Vương Đôi thời Tây Hán ở Trường Sa, Hồ Nam, và năm 1982, trong ngôi mộ số 1 nước Sở thời Chiến Quốc ở Mã Sơn, Giang Lăng, Hồ Bắc, các nhà khảo cổ đã khai quật được nhiều loại tơ lụa: lụa trơn, lụa mịn, vải sa vuông, la, gấm, thêu…, trong đó có nhiều mẫu gấm dệt hoa, kết cấu gồm gấm kinh hai lớp sợi dọc và gấm kinh ba lớp sợi dọc, cho thấy khung cửi dệt gấm lại được cải tiến thêm một bước nữa. Tiếp đó, còn phát hiện 4 mô hình khung cửi dệt hoa văn kiểu liên thanh - móc nâng nhiều go trong mộ Hán trên núi Lão Quan, Thành Đô, ngoài ra tại di chỉ Niya, Tân Cương, các nhà khảo cổ cũng phát hiện băng tay bảo hộ may bằng vải gấm kinh năm lớp thời Hán mang dòng chữ "Ngũ tinh xuất Đông Phương lợi Trung Quốc", càng cho thấy kỹ thuật dệt hoa văn bằng khung dệt tơ lụa ở Trung Quốc đã rất phát triển trong giai đoạn Tiên Tần và hai triều Hán.
根据现有的考古发掘报告和文献材料,中国古代织机演变从有无踏板上看,经历了原始腰机、双轴织机、综蹑织机三个阶段。
Căn cứ vào báo cáo khảo cổ và tài liệu hiện có, xét theo tiêu chí có bàn đạp hay không, quá trình phát triển của khung cửi Trung Quốc cổ đại có thể chia thành ba giai đoạn chính: Khung cửi thắt lưng nguyên thủy; Khung cửi hai trục; Khung cửi tông nhiếp.
腰机是织机的雏形,原始腰机在中国出现得很早,在很多新石器时代的遗址中就有出土其部件的实例。除了前文提到的浙江余姚河姆渡文化遗址,还有河北磁山文化遗址、余杭反山墓地23号墓、江西贵溪县鱼塘公社仙岩一带崖墓群以及云南石寨山滇文化遗址都出土过原始腰机的部件,如经轴、杼杆、综竿等,多是木质的。此外,明代邓廷宣所绘《琼黎风俗图》(现藏海南省博物馆)中的原始腰机织造图是迄今发现的绘画作品中最早的关于原始腰机的图像信息。
Khung cửi thắt lưng là hình dáng sơ khai của khung cửi, xuất hiện rất sớm ở Trung Quốc. Trong nhiều di chỉ thời kỳ đồ đá mới, người ta đã tìm thấy các bộ phận của khung cửi thắt lưng. Ngoài di chỉ Hà Mẫu Độ (Chiết Giang), còn có các di chỉ khác như: Văn hóa Từ Sơn (Hà Bắc), Mộ số 23 tại Phản Sơn (Dư Hàng, Chiết Giang), Quần thể mộ đá Tiên Nham (huyện Quý Khê, Giang Tây), Di chỉ văn hóa Điền ở Thạch Trại Sơn (Vân Nam), đều đã phát hiện một số bộ phận của khung cửi thắt lưng nguyên thủy, chẳng hạn như trục sợi dọc, cần đưa thoi, cần nâng tông, đa phần làm bằng gỗ. Ngoài ra, hình ảnh khung cửi thắt lưng nguyên thủy trong bức họa “Phong tục vùng Quỳnh Lê” (琼黎风俗图) do Đặng Đình Tuyên thời Minh vẽ, hiện lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Hải Nam, là hình ảnh minh họa sớm nhất còn lưu lại cho đến nay về loại khung cửi này trong hội họa Trung Quốc cổ.
敬姜谓之曰:“吾语汝,治国之要,尽在经矣。夫幅者,所以正曲枉也,不可不强,故幅可以为将。画者,所以均不均、服不服也,故画可以为正。物者,所以治芜与莫也,故物可以为都大夫。持交而不失,出入不绝者,梱也。梱可以为大行人也。推而往,引而来者,综也。综可以为关内之师。主多少之数者,枃(一作均)也。枃可以为内史。服重任,行远道,正直而固者,轴也。轴可以为相。舒而无穷者,樀(一作摘)也。樀可以为三公。”
——(汉)刘向《烈女传·母仪传·鲁季敬姜》
“Kính khương vị chi viết: “Ngô ngữ nhữ, trị quốc chi yếu, tận tại kinh hĩ. Phu bức giả, sở dĩ chính khúc uổng dã, bất khả bất cường, cố bức khả dĩ vi tướng. Họa giả, sở dĩ quân bất quân, phục bất phục dã, cố họa khả dĩ vi chính. Vật giả, sở dĩ trị vu dữ mạc dã, cố vật khả dĩ vi đô đại phu. Trì giao nhi bất thất, xuất nhập bất tuyệt giả, khổn dã. Khổn khả dĩ vi đại hành nhân dã. Thôi nhi vãng, dẫn nhi lai giả, tông dã. Tông khả dĩ vi quan nội chi sư. Chủ đa thiểu chi sổ giả, quân (nhất tác quân) dã. Quân khả dĩ vi nội sử. Phục trùng nhậm, hành viễn đạo, chính trực nhi cố giả, trục dã. Trục khả dĩ vi tương. Thư nhi vô cùng giả, đích (nhất tác trích) dã. Đích khả dĩ vi tam công. ”
Có nghĩa là, Kính Khương nói rằng: “Ta nói cho con biết, yếu quyết trị quốc đều nằm cả trong khung cửi dệt vải. Cái phúc (thanh dọc để giữ vải thẳng) là thứ dùng để chỉnh ngay cái cong, cái lệch, không thể không vững. Vì vậy, người giữ phúc có thể làm tướng quân. Cái họa (đường kẻ ngang) dùng để khiến cho cái không đều được đều, cái không phục phải phục. Vì thế, người giữ họa có thể làm chính khanh. Cái vật (thanh gài sợi) là để trị cái rối loạn, khiến trật tự. Nên người giữ vật có thể làm đại phu. Cái khốn (thanh giữ sợi giao nhau) là vật nối ra vào mà không bị ngắt quãng. Nên người giữ khốn có thể làm đại hành nhân (chức quan chuyên việc giao tiếp, sứ giả). Cái tông (sợi điều khiển lên xuống) là thứ đẩy ra thì đi, kéo lại thì về. Nên người giữ tông có thể làm quan trong cửa ải (người giữ trật tự, điều tiết). Cái quân (hoặc cấn) là thứ chủ quản việc nhiều hay ít. Nên người giữ quân có thể làm nội sử (quan coi việc trong nước). Cái trục là vật gánh nặng, đi xa, ngay thẳng và kiên cố. Nên người giữ trục có thể làm tể tướng. Còn cái đích (hoặc trích) là vật mở ra mà vô cùng tận. Nên người giữ đích có thể làm tam công (chức quan tối cao trong triều đình).” — [Hán] Lưu Hướng, Liệt Nữ Truyện – Mẫu Nghi Truyện – Lỗ Quý Kính Khương.
其中提到了八种织机部件的名称和功用:幅,乃为幅撑;画,乃为边线;物(一作“茀”),乃为综刷;梱,即为引纬机具;综,乃为综叶,包括综竿和综线;枃,应该是定经、调经之具,履行后世筘的部分功能;轴,乃为织轴;樀(一作“摘”),乃为经轴,与织轴对应。这八个部件恰好能构成当时的一架双轴织机,精确地说是一台水平式双轴织机,根据原文出处,我们将它命名为“双轴鲁机”。
Câu chuyện trên có nhắc đến tám bộ phận của khung cửi cùng với công dụng của chúng: Phúc (幅): tức là thanh chống vải, dùng để giữ cho tấm vải được căng và thẳng; Họa (画): tức là đường biên, dùng để cố định mép vải; Vật (物) (có bản chép là phất 茀): tức là bàn chải sợi dọc, dùng để tách và chải sợi; Khốn (梱): là dụng cụ dẫn sợi ngang, giúp đưa sợi ngang qua lại; Tông (综): là mắt khung cửi, gồm thanh tông và sợi tông, dùng để điều khiển sợi dọc lên xuống; Quân (枃): có lẽ là dụng cụ cố định và điều chỉnh sợi dọc, đảm nhiệm một phần chức năng của lược (筘) trong khung cửi đời sau; Trục (轴): là trục cuộn vải; Đích (樀) (có bản chép là trích 摘): là trục sợi dọc, đối ứng với trục cuộn vải. Tám bộ phận này hợp lại vừa đủ để cấu thành một khung cửi hai trục thời bấy giờ, chính xác hơn là khung cửi nằm ngang kiểu hai trục. Dựa theo nguồn gốc văn bản, người ta gọi nó là “song trục Lỗ cơ” (khung cửi hai trục của nước Lỗ).
《琼黎风俗图》中的原始腰机织造图, 明 邓廷宣 海南省博物馆藏
Hình ảnh khung cửi thắt lưng nguyên thủy
trong Bức họa “Phong tục người Quỳnh Lê” của Đặng Đình Tuyên thời Minh
Hiện lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Hải Nam
从鲁季敬姜的这段话中可以看出,此种双轴织机没有出现蹑(即脚踏板)。一直到综蹑织机出现,织机才有了踏板这个关键部件。综蹑织机的流变最为繁复,历经单综单蹑织机、单动式双综双蹑织机、互动式双综双蹑织机、多综多蹑织机。我们以最成熟的多综多蹑织机为例。多综多蹑织机较提花腰机和双轴织机更为先进,腰机和双轴织机只能织造简单的图案,多综多蹑织机则以多个综框来实现提花织造,可以完成更为复杂的提花织物。多综多蹑织机主要部件为:机架、经轴、卷轴、筘(打纬刀)、梭等,多片综框和多根足蹑是该类织机的主要特点。综蹑织机主要适合于织造纵向花纹较短,横向花纹不受限制的提花织物。
Trong đoạn văn thuyết minh của Lỗ Quý Kính Khương có thể thấy rằng, loại khung cửi hai trục này vẫn chưa có bộ phận “nhiếp”, tức là bàn đạp chân. Mãi đến khi khung cửi tông nhiếp xuất hiện, khung cửi mới có bộ phận then chốt là bàn đạp. Quá trình phát triển của khung cửi tông nhiếp rất phức tạp, trải qua các giai đoạn: Khung cửi đơn tông đơn nhiếp, Khung cửi hai tông hai nhiếp đơn động, Khung cửi hai tông hai nhiếp liên động, Và cuối cùng là khung cửi đa tông đa nhiếp. Lấy ví dụ khung cửi đa tông đa nhiếp làm ví dụ. Loại này tiên tiến hơn khung cửi thắt lưng dệt hoa văn và khung cửi hai trục rất nhiều. Khung cửi thắt lưng và khung cửi hai trục chỉ có thể dệt họa tiết đơn giản, còn khung cửi đa tông đa nhiếp có thể dệt hoa văn phức tạp hơn nhờ sử dụng nhiều khung tông để điều khiển các sợi dọc. Các bộ phận chính của khung cửi đa tông đa nhiếp gồm có: khung máy, trục sợi dọc, trục cuộn vải, lược (dao dập sợi ngang), thoi, cùng với nhiều khung tông và nhiều bàn đạp chân là đặc điểm tiêu biểu nhất của loại khung cửi này. Khung cửi tông nhiếp đặc biệt thích hợp để dệt vải hoa có hoa văn dọc ngắn, hoa văn ngang không bị giới hạn.
据文献记载,汉代用于织锦的机器主要是多综多蹑提花织机,与现存“丁桥织机”类似,老官山汉墓出土的织机模型是未见记载的勾综式提花机,填补了纺织机械史的空白。
Theo tài liệu ghi chép, thời Hán, các loại khung cửi dùng để dệt gấm chủ yếu là khung cửi dệt hoa văn nhiều khung tông, nhiều bàn đạp, giống với chiếc khung cửi Đinh Kiều hiện còn lưu giữ. Loại khung cửi dệt hoa văn kiểu “móc tông” (câu tông) khai quật được tại lăng mộ trên núi Lão Quan là một kiểu chưa từng được ghi chép trong sử sách, bổ sung vào khoảng trống trong lịch sử máy dệt cổ đại của Trung Quốc.
编译Biên dịch:Bùi Thị Tiệp(裴碧捷)
校对Hiệu đính:冯超 (FENG Chao)
排版Sắp chữ:宁笑葳 (NING Xiaowei)
70件文物里的中国 - 老官山汉墓织机 - 上海博物馆 - 微信读书
Liên hệ chúng tôi
Trung tâm báo chí, Phòng Tuyên truyền Đảng ủy SISU
Tel : +86 (21) 3537 2378
Email : news@shisu.edu.cn
Address :550 phố Đại Liên Tây, Thượng Hải, Trung Quốc
