Liên hệ chúng tôi
Trung tâm báo chí, Phòng Tuyên truyền Đảng ủy SISU
Tel : +86 (21) 3537 2378
Email : news@shisu.edu.cn
Address :550 phố Đại Liên Tây, Thượng Hải, Trung Quốc
Tin cũ
雷台墓铜奔马 | NGỰA PHI NƯỚC ĐẠI BẰNG ĐỒNG
25 December 2025 | By viadmin | SISU
雷台墓铜奔马
NGỰA PHI NƯỚC ĐẠI BẰNG ĐỒNG
trong mộ Hán trên núi Lôi Đài
铜奔马
西晋(一说东汉)甘肃武威雷台1号汉墓出土 甘肃省博物馆藏
Ngựa phi nước đại bằng đồng
Tây Tấn (có sách cho là Đông Hán);Khai quật tại lăng mộ số 1 ở Lôi Đài, Vũ Uy, Cam Túc; Hiện lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Cam Túc
文物速览
ĐÔI NÉT VỀ HIỆN VẬT
中国古代艺术中不乏马的形象,甘肃雷台墓出土的铜奔马以其昂首嘶鸣、疾足奔驰的形态,以及尤为矫健精美的造型彰显别致。塑造者截取了奔马三足腾空、一脚踏飞禽的瞬间,展现出跨越时空的动态之美,而将看似强健的骏马力量集中在一足,也展现了造像技艺水平之高。它不仅体现了中国古代丧葬观念,也是东西方物质、文化交流的使者和象征。
Trong nghệ thuật cổ đại Trung Quốc, hình tượng ngựa xuất hiện rất phổ biến. Trong số đó, Ngựa đồng phi nước đại được khai quật từ lăng mộ Lôi Đài, Cam Túc nổi bật với tư thế ngẩng đầu hí vang, tung vó lao nhanh, thể hiện dáng vẻ vừa mạnh mẽ vừa thanh thoát. Người tạo hình đã khéo léo chọn khoảnh khắc ngựa phi nước đại khi ba chân bay lên không, một chân giẫm lên chim bay, khắc họa vẻ đẹp trong trạng thái động vượt cả thời gian lẫn không gian, nhìn con tuấn mã như đang tập trung toàn bộ sức mạnh vào một chân duy nhất, cho thấy trình độ thủ công tạo hình tạc tượng cực kỳ cao siêu. Tác phẩm này không chỉ phản ánh quan niệm tang lễ của người xưa, mà còn là biểu tượng và sứ giả cho sự giao lưu vật chất và văn hóa giữa phương Đông với phương Tây.
一、中国早期艺术中的马
I. Hình ảnh con ngựa trong nghệ thuật Trung Quốc thời kỳ đầu
马,作为中国古代“六畜”之首,不仅是交通工具和农用畜力,也是军队的重要组成部分。甲骨文中极具象形特点的字,勾勒出头、身、腿、足、尾俱全的马。而广泛分布在新疆、甘肃、宁夏、内蒙古等地的岩画上,不仅有马与其他动物混杂的图像,也有猎马、牧马、骑马、马车等以马为主体的图像,意味着此时马已渗透入先民的狩猎、战斗活动。
Ngựa là loài đứng đầu trong “lục súc” của Trung Quốc cổ đại, không chỉ là phương tiện giao thông và sức kéo trong nông nghiệp, mà còn là một bộ phận quan trọng cấu thành quân đội. Trong chữ giáp cốt, chữ “mã” mang đậm tính tượng hình, phác họa đầy đủ từ đầu, thân, chân và đuôi của con ngựa. Trên những bức tranh khắc đá được phát hiện rộng rãi ở các khu vực như Tân Cương, Cam Túc, Ninh Hạ, Nội Mông, người ta không chỉ thấy có hình ảnh ngựa cùng các loài động vật khác, mà còn chọn cảnh lấy ngựa làm đề tài sáng tác như: săn ngựa, chăn ngựa, cưỡi ngựa, xe ngựa, đồng nghĩa với việc loài ngựa đã gia nhập vào hoạt động săn bắn và chiến đấu của cư dân thời đó.
先秦时代,有周穆王车架用“八龙之骏”牵引,日行万里,直抵昆仑的传说。古人事死如事生。商周贵族墓中常有车马实物出土,也有马形器物,如西周盠青铜驹尊将传说中的西周骏马具象化,形皆头大、颈脖粗壮、腿粗,肌肉线条略显平实呆滞,不见迅疾之姿。战国韩非论及绘画时指出,“夫犬马,人所知也。旦暮罄于前,不可类之,故难”(《韩非子·外储说左上》),春秋战国较之前代,观念和技艺的限制使得青铜马的造型依旧古拙笨重。
Trong thời kỳ đời Tần trở về trước, đã có truyền thuyết kể rằng Chu Mục Vương dùng “bát long chi tuấn” kéo xe, tương truyền rằng một ngày đi được vạn dặm, đến tận Côn Luân. Người xưa cho rằng người sống sao người chết vậy, vì thế trong các ngôi mộ quý tộc thời Thương Chu, thường phát hiện xe ngựa thật được chôn theo, cũng có các vật hình ngựa. Ví dụ, “Lễ thanh đồng câu tôn” thời Tây Chu đã hiện thực hóa hình tượng con tuấn mã trong truyền thuyết, về tạo hình có các đặc trưng là đầu to, cổ vạm vỡ, chân ngắn thô, các khối cơ được xử lý khá đơn giản, có phần gượng gạo,, không toát lên được tư thế nhanh nhẹn, linh hoạt của loài ngựa. Hàn Phi thời Chiến Quốc khi bàn về hội họa từng nói: “Phu khuyển mã, nhân sở tri dã. Đán mộ khánh vu tiền, bất khả loại chi, cố nan.” (Có nghĩa là, Chó và ngựa thì ai cũng biết, lúc nào cũng thấy bất kể ngày đêm, nhưng lại không dễ vẽ giống chúng, bởi vậy mà khó.” (Hàn Phi Tử – Ngoại trữ thuyết tả thượng), từ đó có thể thấy vào thời Xuân Thu Chiến Quốc, do những hạn chế về quan niệm và kỹ thuật, nghệ thuật tạo hình tạc tượng ngựa bằng đồng vẫn có dáng vẻ cổ xưa, cảm giác nặng nề cồng kềnh.
秦汉之际,马种和塑像技艺的双重发展使马俑的精神气质产生显著变化。秦“以养马起家,以好马开国”,始皇陵中与真马等大的马俑,对写实性的追求使马之形态较之前俊美矫健不少。得益于西汉文帝实行的“复马令”和景帝“始造苑马以广用”,以及武帝时期引进良马的举措,汉代马匹数量大大增加,品种也多样化。极具规模的以马为母题的艺术形象出现在汉代墓石、墓葬壁画以及陪葬木雕、青铜器物中。
Đến thời Tần Hán, sự phát triển song hành giữa giống ngựa và kỹ thuật tạo tượng đã khiến thần thái của tượng ngựa có những thay đổi rõ rệt. Nhà Tần “dựa vào nghề nuôi ngựa mà phát triển, dựa vào giống ngựa tốt mà dựng nước”, trong lăng mộ Tần Thủy Hoàng, tượng ngựa đất nung có kích thước tương đương ngựa thật, tính tả thực mà nghệ nhân đang theo đuổi, khiến hình thái ngựa trở nên tuấn tú và cường tráng hơn so với trước đây. Nhờ vào chính sách “phục mã lệnh” của Hán Văn Đế và chủ trương “thủy tạo uyển mã dĩ quảng dụng”(tức, xây trang trại nuôi ngựa để tăng nguồn cung) của Hán Cảnh Đế, đặc biệt là biện pháp nhập giống ngựa quý từ Tây Vực thời kỳ Vũ Đế, làm cho số lượng ngựa thời Hán tăng lên đáng kể, chủng loại ngựa cũng ngày càng phong phú. Các hình ảnh nghệ thuật lấy ngựa làm mô típ, chủ đề xuất hiện với quy mô lớn trên đá làm lăng mộ, bích họa lăng mộ, cũng như trong các đồ đồng, vật dụng điêu khắc gỗ tùy táng.
墓葬中常出现规模惊人的车马仪仗,如咸阳杨家湾汉墓、徐州狮子山楚王陵中皆有造型各异的马俑。汉画像石中也常有马的形象出现。西汉武帝时期与游牧民族长时间的征战,使马愈加成为广阔疆域内纵横捭阖的重要工具、与国家和权力息息相关的重要象征。马的艺术形象在此时也产生变化,体形由短粗转向健美,整体精神气质更加昂扬。从先秦时代不自觉的抽象刻画,到秦时精益求精的写实,至于汉代追求精神气质的写意,马之艺术逐渐走向高峰。
Trong các ngôi mộ thường phát hiện những cỗ xe ngựa nghi trượng với quy mô lớn, như mộ Hán ở Dương Gia Loan, Hàm Dương, hay lăng mộ vua Sở trên núi Sư Tử, Từ Châu, đều phát hiện tượng ngựa đất nung với các hình dáng khác nhau. Trên các bức vẽ trên đá thời Hán cũng thường bắt gặp hình ảnh ngựa. Đặc biệt, vào thời Hán Vũ Đế, những cuộc chinh chiến với các dân tộc du mục diễn ra triền miên, ngựa càng trở thành công cụ quan trọng giúp mở rộng lãnh thổ, đồng thời là biểu tượng gắn liền với quốc gia và quyền lực. Từ đó, hình tượng mỹ thuật về ngựa cũng bắt đầu có sự biến đổi, thân hình ngắn, thô trở nên cân đối, cường tráng; thần thái trở nên khoáng đạt, mạnh mẽ. Từ những đường nét khắc họa trừu tượng vô thức thời Tiên Tần, đến sự tả thực tinh tế của thời Tần, cuối cùng đạt đến mức biểu ý, chú trọng thần thái trong thời Hán, nghệ thuật khắc họa ngựa của Trung Quốc đã bước vào một thời kỳ đỉnh cao.

铜车马仪仗俑队(局部)
西晋(一说东汉)甘肃武威雷台1号汉墓出土 甘肃省博物馆藏
Tượng đội nghi trượng xe ngựa bằng đồng (một phần)
Thời Tây Tấn (có ý kiến cho là Đông Hán),
Khai quật tại mộ Hán số 1, Lôi Đài, Vũ Uy, Cam Túc
Hiện lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Cam Túc
马踏飞燕
MÃ ĐẠP PHI YẾN (NGỰA PHI NƯỚC ĐẠI ĐẠP CHIM YẾN)
1971年郭沫若陪同外宾访问兰州,在甘肃省博物馆初见铜奔马,立即将其命名为“马踏飞燕”,这个传神又朗朗上口的定名被广泛使用。因燕之体量及尾羽分叉与马下飞禽有所不同,这一说法逐渐被反思。
Năm 1971, khi Quách Mạt Nhược tháp tùng đoàn làm việc với khách quốc tế đến thăm Lan Châu, lần đầu tiên nhìn thấy pho tượng ngựa đồng phi nước đại tại Bảo tàng tỉnh Cam Túc, đã lập tức đặt tên cho nó là “Mã đạp phi yến”. Cái tên vừa sinh động vừa dễ nhớ này sau đó được phổ biến rộng rãi. Tuy nhiên, do thân hình và đuôi chẻ đôi của chim yến không hoàn toàn giống với loài chim dưới yên ngựa, cách gọi này về sau đã được giới học thuật xem xét lại.
马超龙雀
MÃ SIÊU LONG TƯỚC
西汉张衡《东京赋》中有“龙雀蟠蜿、天马半汉”,薛综注“龙雀,飞廉也”,又称“风神”。“马超龙雀”是铜奔马的另一个名字,将龙雀踏在脚下,寓意骏马快过风神。这种传说中的神鸟的形貌,有很多解释,一为鸟身鹿头;二为龙身豹尾,双翼似足,兼有龙蛇、鸟雀之形。无论如何,其形义都与马足下物相去甚远。中国古代还有“捷若鹰隼”之说,以形似雨燕、动若疾风的鹰隼来衬托矫健俊逸的奔马也不无可能。故而1973至1974年铜奔马欧洲展出时,即介绍马足踏之物称作“鹰隼”“猎鹰”。
Trong Đông Kinh phú của Trương Hành thời Tây Hán có câu: “Long tước bàn loan, thiên mã bán Hán”. Học giả Tiết Tông chú giải rằng “Long tước chính là Phi Liêm”, còn được gọi là “Phong thần”. “Mã Siêu Long Tước” là tên gọi khác của Ngựa đồng phi nước đại, ý chỉ con ngựa đạp lên Long Tước, ngụ ý cho việc tuấn mã chạy nhanh hơn cả thần gió.
Về hình dáng của loài chim thần thoại này, có nhiều cách lý giải: Có thuyết cho rằng thân chim đầu hươu; Có thuyết cho rằng thân rồng, đuôi báo, hai cánh như chân, mang hình dáng tổng hợp của rồng, rắn và chim. Dù theo cách giải thích nào, hình tượng ấy cũng khác xa với con vật dưới chân ngựa đồng. Trung Hoa cổ đại có câu “tiệp nhược ưng chuẩn” (nhanh như chim ưng), dùng hình ảnh chim ưng, loài có dáng bay như chim én và động tác nhanh như gió, để ví von với dáng vẻ mạnh mẽ, khoáng đạt của ngựa phi. Vì vậy, khi tượng Ngựa đồng phi nước đại được trưng bày tại châu Âu (1973–1974), phần con vật dưới chân ngựa đã được giới thiệu là “chim ưng” hay “chim cắt”.
马逮金乌
MÃ ĐÃI KIM Ô (NGỰA ĐUỔI KIM Ô)
金乌,其原型是乌鸦,由此衍生出了三足乌的形象。古人认为太阳东升西落是由于有乌鸦驮负,因此金乌就成为太阳的代称。马王堆帛书《相马经》中将“逮乌鸦”作为鉴别奔跑速度极快的“千里马”的标准,因此有“马逮金乌”的说法产生。
“Kim Ô”, có hình hài giống con quạ, từ đó phát triển thành hình tượng tam túc ô (quạ ba chân). Người xưa tin rằng mặt trời mọc ở phương Đông và lặn ở phương Tây là do có chim quạ chở đi, vì vậy Kim Ô trở thành cách gọi khác của mặt trời. Trong sách lụa Tướng mã kinh của Mã Vương Đôi, hành động “đuổi chim quạ” được xem là tiêu chuẩn để nhận biết tốc độ phi nhanh của loài “thiên lý mã”, từ đó xuất hiện cách nói “ngựa đuổi Kim Ô”.
在汉代墓葬中,金乌形象就曾出现在日轮之中。三足乌的形象也出现在西王母信仰的图画构成之中,金乌成为西王母信仰的有效组成部分,代表了长生的信仰和愿望。从图像学的角度出发,马下飞禽,与汉墓壁画、画像石和帛画中的金乌非常相似。出土之始,马身表面留有明显的佩饰痕迹,虽已脱落,但应为马鞍无误。奔跑的骏马在墓葬的情境之下,被赋予更多内涵。以马载墓主之亡灵,踏金乌通向彼岸世界。
Trong các ngôi mộ thời Hán, hình tượng Kim Ô từng xuất hiện trong vòng nhật luân (mặt trời). Hình ảnh Tam Túc Ô cũng thường xuất hiện trong các bức tranh liên quan đến tín ngưỡng Tây Vương Mẫu, nơi Kim Ô trở thành một yếu tố quan trọng trong tín ngưỡng Tây Vương Mẫu, là biểu tượng cho khát vọng và tín ngưỡng trường sinh bất tử. Xét từ góc độ hình tượng học, loài chim dưới chân ngựa trong tượng Ngựa đồng phi nước đại có hình dáng rất giống với Kim Ô được thấy trong tranh lụa, tranh khắc trên đá và bích họa mộ Hán. Khi được khai quật, trên thân ngựa vẫn còn dấu vết của các món trang sức, mặc dù đã bị bong tróc, nhưng cho thấy trước đây từng được gắn yên cương. Trong bối cảnh mai táng, tuấn mã đang phi nước đại, mang ý nghĩa sâu xa hơn, ngựa chở linh hồn người đã khuất, đạp lên Kim Ô để về thế giới bên kia.
就马本身的形象而言,它不同于早期考古资料中发现的蒙古马头大肢粗的形象,其矫捷武威的体型,不免让人联想到汉武帝时期从西亚引进的赫赫有名的“汗血宝马”,汉武帝时,张骞出使大月氏初见大宛马,它身长体高,速度耐力兼备,是极为优良的战马。
Xét về hình tượng con ngựa, nó khác hẳn với loài ngựa Mông Cổ đầu to, chân thô ngắn được phát hiện trong các di vật khảo cổ giai đoạn sớm. Dáng vẻ oai phong lẫm liệt, nhanh nhẹn của con ngựa, không khỏi khiến người ta liên tưởng đến giống “Hãn huyết bảo mã” trứ danh được du nhập từ Tây Á vào thời Hán Vũ Đế. Vào thời Hán Vũ Đế, khi Trương Khiên đi sứ Đại Nguyệt Chi, lần đầu nhìn thấy loài ngựa quý của Đại Uyên, thân hình cao lớn, chạy nhanh sức bền, được đánh giá là chiến mã nổi danh bậc nhất.
因“霑赤汗,沫流赭”,故以“汗血马”名之,又称“天马”。汉武帝为求“天马”,数次向大宛遣使,不惜发动战争,最终如愿获上等良马数十匹,中等以下的雌雄马三千余匹而归。如今可见的大宛马身形纤细,与奔马形象也不完全一致。可能源于西域良马与蒙古土马杂交产生的改良性状,使得奔马在矫捷的基础上又有坚实的量感。
Vì “tiêm xích hãn, mạt lưu giả” (khi chạy ra mồ hôi đỏ như máu), nên được gọi là “hãn huyết mã”, hay “thiên mã”. Để có được giống ngựa này, Hán Vũ Đế đã nhiều lần cử sứ giả sang Đại Uyển cầu ngựa, thậm chí phát động chiến tranh, cuối cùng thu được vài chục con ngựa thượng hạng và hơn ba nghìn con ngựa giống đực cái trung hạng trở xuống. Ngựa Đại Uyên hiện nay có thân hình thon dài, không hoàn toàn giống với hình tượng ngựa đồng đang phi nước đại. Có thể là do sự lai tạo giữa ngựa Tây Vực và ngựa thảo nguyên Mông Cổ đã tạo nên một giống ngựa cải tiến, vừa nhanh nhẹn, vừa có thân hình chắc khỏe, hùng dũng.
铜奔马脚踏飞禽,凌空奔驰,时间和空间凝聚于一刻,不知是马借力飞燕腾空,还是鹞鹰穿略马蹄,抑或是马与足下金乌共奔彼岸。随着时间的流逝、王朝的更替,答案或许早已湮没,但马一定是中土与西域跋山涉水长途往来的主要畜力,也是丝路沿线各族人民之间互通有无的重要见证。
Tượng ngựa đồng đạp lên chim bay, lướt đi giữa không trung, khiến thời gian và không gian như ngưng đọng trong khoảnh khắc ấy. Không rõ ngựa mượn sức chim để tung mình, hay chim ưng vụt qua dưới vó ngựa, hoặc ngựa hay Kim Ô cùng phi đến thế giới bên kia. Xuôi dòng thời gian và sự đổi thay của các triều đại, câu trả lời có lẽ đã sớm chìm vào dĩ vãng. Nhưng có một điều chắc chắn: ngựa là sức kéo chính trong vận chuyển hàng hóa trên chặng đường vượt núi băng sông giữa Trung Nguyên với Tây Vực, cũng là con vật quan trọng chứng kiến sự giao lưu, trao đổi giữa các dân tộc dọc tuyến Con đường Tơ lụa./
编译Biên dịch:Bùi Thị Tiệp(裴碧捷)
校对Hiệu đính:冯超 (FENG Chao)
排版Sắp chữ:宁笑葳 (NING Xiaowei)
来源:70件文物里的中国 - 雷台墓铜奔马 - 上海博物馆 - 微信读书
Liên hệ chúng tôi
Trung tâm báo chí, Phòng Tuyên truyền Đảng ủy SISU
Tel : +86 (21) 3537 2378
Email : news@shisu.edu.cn
Address :550 phố Đại Liên Tây, Thượng Hải, Trung Quốc
