Liên hệ chúng tôi
Trung tâm báo chí, Phòng Tuyên truyền Đảng ủy SISU
Tel : +86 (21) 3537 2378
Email : news@shisu.edu.cn
Address :550 phố Đại Liên Tây, Thượng Hải, Trung Quốc
Tin cũ
进藏之路 | Con đường đi đến Tây Tạng
20 July 2026 | By viadmin | SISU
进藏之路
Con đường đi đến Tây Tạng
一、上天入地
I. Lên trời, xuống đất
1950年的中国,持续一百多年的纷乱刚刚平息,边疆亟待建立全新的防线。此时的西部边疆,只有西藏还未解放。为此,人民解放军整装待发,准备进驻西藏。
Năm 1950, khi cục diện rối ren kéo dài hơn một thế kỷ ở Trung Quốc vừa lắng xuống, vùng biên cương cần khẩn thiết xây dựng một tuyến phòng thủ hoàn toàn mới. Vào thời điểm đó, ở miền biên giới phía Tây, chỉ còn Tây Tạng là chưa được giải phóng. Vì vậy, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã chỉnh trang lực lượng, sẵn sàng tiến vào Tây Tạng.
但自古以来,通向西藏的道路艰险异常,近代著名地理学家白眉初于1930年在《西藏始末纪要》中写道:
Thế nhưng, từ xa xưa, con đường đi đến Tây Tạng vô cùng hiểm trở. Nhà địa lý học nổi tiếng thời cận đại Bạch Mi Sơ đã viết trong tác phẩm Tây Tạng thủy mạt kỷ yếu (西藏始末纪要) xuất bản năm 1930 rằng:
乱石纵横,人马路绝,艰险万状,不可名态。
Loạn thạch tung hoành, nhân mã lộ tuyệt, gian hiểm vạn trạng, bất khả danh thái.
正因如此,不仅军队难以进入,粮草也难以供应。为了有充足的力量保卫边防,一条入藏公路的建设迫在眉睫。
Chính vì lẽ đó, không chỉ quân đội khó có thể tiến vào Tây Tạng, mà việc vận chuyển lương thực và vật tư hậu cần cũng hết sức gian nan. Để có đủ lực lượng bảo vệ biên cương, việc xây dựng một tuyến đường bộ tiến vào Tây Tạng đã trở thành nhiệm vụ cấp bách.

大雪山脉 / 摄影 姜曦
Dãy Đại Tuyết Sơn / Nhiếp ảnh: Khương Hy
大雪山脉是横断山脉东列山脉之一,南北延伸400多千米,呈南北走向,由北向南有党岭山、折多山、贡嘎山、紫眉山等。
Dãy Đại Tuyết Sơn là một trong những dãy núi nằm ở phía đông của hệ thống núi Hoành Đoạn, kéo dài hơn 400 km theo hướng Bắc – Nam. Từ bắc xuống nam, dãy núi này bao gồm các ngọn Đảng Lĩnh Sơn, Chiết Đa Sơn, Cống Ca Sơn và Tử Mi Sơn…
于是,在毛主席“一面进军,一面修路”的指示下,“入藏第一路”正式开工。这一修就是整整4年,最终2255千米的道路于1954年全线贯通,时称“康藏公路”。
Vì vậy, theo chỉ thị của Chủ tịch Mao Trạch Đông: “Vừa tiến quân, vừa làm đường”, “con đường đầu tiên tiến vào Tây Tạng” chính thức được khởi công. Công cuộc xây dựng kéo dài tròn bốn năm, đến năm 1954, tuyến đường dài 2.255 km đã được thông xe trên toàn tuyến, khi ấy gọi là đường bộ Khang – Tạng.
康藏公路东起时属西康省的雅安,西至西藏拉萨,一头是海拔几百米的人间天府,一头是海拔超过3600米的高原日光城。然而,自东向西进入西藏,数千米的高差并非最大的阻碍,纵贯南北的横断山才是真正的天堑。
Đường bộ Khang – Tạng, điểm đầu là thành phố Nhã An, khi đó thuộc tỉnh Tây Khang, và điểm cuối là thành phố Lhasa của Tây Tạng. Một đầu là vùng đất “thiên phủ” trù phú ở độ cao chỉ vài trăm mét so với mực nước biển; đầu kia là “thành phố mặt trời” trên cao nguyên ở độ cao hơn 3.600 mét. Tuy nhiên, trên tuyến đường từ đông sang tây tiến vào Tây Tạng, sự chênh lệch độ cao lên tới hàng nghìn mét không phải là trở ngại lớn nhất; chính dãy núi Hoành Đoạn chạy dài theo hướng Bắc – Nam mới thực sự là một thiên hiểm khó vượt qua.

雀儿山盘山公路 / 摄影 张明
Đường đèo quanh núi Tước Nhi Sơn / Nhiếp ảnh: Trương Minh
康藏公路全程最艰险之处莫过于雀儿山山口,这里海拔5050米,是康藏公路的最高点,空气稀薄,白雪皑皑,冬季气温可降至-20℃到-30℃。70年前的筑路部队用了近三个月的时间才得以辟出山路,越过山口。抵达雀儿山时,康藏公路已翻越600余千米的山岭。而在接下来的里程中,便是海拔4000多米的业拉山口和安久拉山口。
Trên toàn tuyến đường bộ Khang – Tạng, đoạn hiểm trở nhất không đâu khác là đèo Tước Nhi Sơn. Nơi đây nằm ở độ cao 5.050 mét, là điểm cao nhất của tuyến đường Khang – Tạng, không khí loãng, tuyết phủ trắng xóa, mùa đông nhiệt độ có thể xuống tới từ -20°C đến -30°C. 70 năm trước, lực lượng làm đường đã phải mất gần ba tháng mới mở ra con đường vượt qua con đèo này. Khi đến được Tước Nhi Sơn, tuyến đường Khang – Tạng đã phải vượt qua hơn 600 km núi non hiểm trở. Và trên chặng đường tiếp theo, lực lượng mở đường còn phải đối mặt với đèo Nghiệp Lạp và đèo An Cửu Lạp, đều nằm ở độ cao trên 4.000 mét.
在横断山区的重重山脉间,还有6条大江穿行其中,流水侵蚀,千沟万壑。在沙鲁里山和芒康山之间,金沙江声势浩大,逶迤南行,康藏公路行至谷底方能跨江而过。在他念他翁山和伯舒拉岭之间,怒江奔腾咆哮,峡谷幽深,水流湍急。约70年前,为了架桥跨江,施工队与湍急的水流奋战近4天,才将施工便桥的钢索送到对岸。
Giữa những dãy núi trùng trùng điệp điệp, vùng Hoành Đoạn còn có sáu con sông lớn, dưới tác động xói mòn của dòng nước đã tạo nên vô số khe vực và thung lũng sâu. Giữa dãy Sa Lỗ Lý Sơn và Mang Khang Sơn, sông Kim Sa cuồn cuộn, chảy uốn lượn về phía nam; tuyến đường Khang – Tạng phải xuống tận đáy thung lũng mới có thể vượt sông. Giữa dãy Tha Niệm Tha Ông Sơn và Bác Thư Lạp Lĩnh, sông Nộ gầm réo dữ dội, khe núi sâu hun hút, dòng chảy xiết mạnh. Khoảng 70 năm trước, để dựng cầu vượt sông, đội thi công đã phải vật lộn với dòng nước hung hãn suốt gần bốn ngày mới đưa được dây cáp của cây cầu tạm thi công sang sang bờ bên kia.
从山口到河谷,两者的高差可达数千米。在没有穿山隧道的年代,康藏公路只能“贴地而行”,沿着山势曲折盘旋,随着海拔或升或降,在横断山区“上天入地”。
Độ chênh cao giữa đèo và đáy thung lũng có thể lên tới hàng nghìn mét. Trong thời kỳ chưa có những đường hầm xuyên núi, tuyến đường Khang – Tạng chỉ có thể “bám sát mặt đất”, uốn lượn quanh sườn núi, khi lên cao, khi hạ thấp theo địa hình, liên tục bay lượn “lên trời, xuống đất” giữa vùng núi Hoành Đoạn.
1952年,当康藏公路修至西藏昌都时,它并没有继续西进,而是转头向南,选择了经波密、林芝抵达拉萨的路线。虽然南部气候温和,便于就地取材和施工,但这意味着公路要翻越海拔4728米的色季拉山口,以及海拔5013米的米拉山口,还要经过多个地震区和不良地质地段。
Năm 1952, khi tuyến đường Khang – Tạng được xây dựng đến Xương Đô của Tây Tạng, nó không tiếp tục tiến về phía tây mà chuyển hướng xuống phía nam, lựa chọn lộ trình đi qua Ba Nghi, Lâm Chi rồi đến Lhasa. Mặc dù khu vực phía nam có khí hậu ôn hòa, thuận lợi cho việc khai thác vật liệu tại chỗ và thi công, nhưng điều đó cũng đồng nghĩa với việc tuyến đường phải vượt qua đèo Sắc Quý Lạp cao 4.728 mét và đèo Mễ Lạp cao 5.013 mét, đồng thời phải đi qua nhiều vùng động đất và các khu vực có điều kiện địa chất bất lợi.
在当时,做出这个决定十分艰难。但为了惠及更多人,为了靠近边防和巩固国防,经贺龙、刘伯承、彭德怀、邓小平、毛泽东等人的层层批复,才最终确定了康藏公路的路线,并在1954年年底正式通车。
Vào thời điểm đó, việc đưa ra quyết định này vô cùng khó khăn. Tuy nhiên, để mang lại nhiều lợi ích cho người dân, đồng thời tiến gần hơn đến tuyến biên phòng và củng cố quốc phòng, sau nhiều lần phê chuẩn của các nhà lãnh đạo như HẠ LONG , LƯU BÁ THỪA , BÀNH ĐỨC HOÀI , ĐẶNG TIỂU BÌNH và MAO TRẠCH ĐÔNG, tuyến đường Khang – Tạng mới được phê duyệt, chính thức thông xe vào cuối năm 1954.
康藏公路通车的第二年,西康省被撤销,公路之名便被改为“川藏公路”,起点也从雅安变更为成都。紧接着,川藏公路南线建设的大幕轰轰烈烈地拉开。南线道路不再向北绕行,而是从雅安持续向西,在雅江县跨越大江,在理塘县翻越高山,经竹巴龙大桥进入西藏,最后在邦达与康藏老路会合,同线通往拉萨。
Năm thứ hai sau khi tuyến đường Khang – Tạng thông xe, tỉnh Tây Khang bị giải thể. tuyến đường được đổi tên thành đường bộ Xuyên – Tạng, đồng thời điểm đầu tuyến cũng được chuyển từ Nhã An về Thành Đô. Ngay sau đó, công cuộc xây dựng tuyến Nam của đường bộ Xuyên – Tạng được rầm rộ triển khai. Khác với tuyến cũ phải vòng lên phía bắc, tuyến Nam từ Nhã An tiếp tục đi thẳng về phía tây, vượt sông lớn tại huyện Nhã Giang, băng qua núi cao ở huyện Lý Đường, đi vào Tây Tạng qua cầu Trúc Ba Long, cuối cùng gặp lại tuyến Khang – Tạng cũ tại Bang Đạt và cùng chung tuyến đường tiến về Lhasa.

从加乌拉山口远眺喜马拉雅山脉 / 摄影 杨奎
Ngắm nhìn dãy Himalaya từ đèo Gia Ô Lạp / Nhiếp ảnh: Dương Khôi
珠穆朗玛峰 / 摄影 毛峰
Đỉnh Everest / Nhiếp ảnh: Mao Phong
珠穆朗玛峰山体呈巨型金字塔状,威武雄壮,昂首天外。2020年,测得珠穆朗玛峰最新高程为8848.86米。在拉萨的西侧,公路建设同样如火如荼。
Đỉnh Everest có hình dáng như một kim tự tháp khổng lồ, hùng vĩ uy nghi, vươn cao giữa trời. Năm 2020, độ cao mới nhất của đỉnh núi này được xác định là 8.848,86 mét. Ở phía tây Lhasa, công cuộc xây dựng đường bộ cũng diễn ra hết sức rầm rộ.
为了攀登世界最高峰,一条珠峰专用公路得以建成,它从日喀则经定日县一头钻进喜马拉雅山脉,直达珠穆朗玛峰北麓。另一条则在定日县与珠峰公路分道扬镳,它跨越6座大山和数条河流,在卓奥友峰和希夏邦马峰之间飞旋而下,直至中尼边境的樟木口岸,这条路被称为“中尼公路”。
Để phục vụ việc chinh phục đỉnh núi cao nhất thế giới, một tuyến đường chuyên dụng dẫn đến Everest đã được xây dựng. Tuyến đường này xuất phát từ Nhật Khách Tắc, đi qua huyện Định Nhật rồi tiến sâu vào dãy Himalaya, kéo dài đến tận sườn phía bắc của đỉnh Everest. Một tuyến đường khác tách khỏi đường Everest tại huyện Định Nhật; vượt qua sáu ngọn núi lớn và nhiều con sông, uốn lượn vòng xuống giữa hai đỉnh núi Cho Oyu và Shishapangma, rồi kéo dài đến cửa khẩu Chương Mộc ở biên giới Trung Quốc – Nepal. Tuyến đường này được gọi là đường bộ Trung Quốc – Nepal.
沿着川藏南线和中尼公路,便可从成都一路直达中尼边境。这条公路沿途风光密集,景观出众,时至今日依然声名显赫,这就是著名的318国道川藏段。
Đi theo tuyến Nam của đường bộ Xuyên – Tạng và đường bộ Trung Quốc – Nepal, người ta có thể đi một mạch từ Thành Đô đến tận biên giới Trung Quốc – Nepal. Tuyến đường này có mật độ cảnh quan thiên nhiên dày đặc, phong cảnh đặc sắc và cho đến ngày nay vẫn nổi tiếng khắp nơi. Đó chính là đoạn Xuyên – Tạng trên Quốc lộ 318.
而曾被康藏公路放弃的北线方案再度被提上日程,随着昌都到那曲和成都到炉霍路线的贯通,又一条从四川连接西藏的公路建成,它同样贯穿横断山脉,成为317国道的一部分。至此,两条国道自东向西,将西藏腹地与四川紧密相连。
Trong khi đó, phương án tuyến phía Bắc, vốn từng bị tuyến đường Khang – Tạng gác lại, lại một lần nữa được đưa vào chương trình xây dựng. Cùng với việc thông tuyến các đoạn Xương Đô – Na Khúc và Thành Đô – Lô Hoắc, một tuyến đường khác nối liền Tứ Xuyên với Tây Tạng đã được hoàn thành. Tuyến đường này cũng xuyên qua dãy núi Hoành Đoạn và trở thành một phần của Quốc lộ 317. Đến đây, hai tuyến quốc lộ lớn chạy theo hướng đông – tây đã gắn kết chặt chẽ vùng nội địa Tây Tạng với tỉnh Tứ Xuyên.
二、冻土天路
II. Thiên lộ trên vùng đất đóng băng
在青海,同样有一条著名的交通动脉连接着西藏,它虽不似川藏公路“跌宕起伏”,却一样充满艰难险阻,修筑全程困难不断。
Thanh Hải cũng có một tuyến giao thông huyết mạch nổi tiếng nối liền với Tây Tạng. Tuy không “nhấp nhô trùng điệp” như đường bộ Xuyên – Tạng, nhưng tuyến đường này cũng chất chứa vô vàn gian nan, quá trình xây dựng phải đối mặt với những khó khăn chồng chất.
2006年7月1日,青藏铁路全线建成通车,“有昆仑山在,铁路就永远到不了拉萨”的时代彻底地成为历史。
Ngày 1 tháng 7 năm 2006, toàn tuyến đường sắt Thanh – Tạng chính thức đi vào hoạt động, khép lại thời đại của câu nói: “Chừng nào còn có núi Côn Luân, đường sắt sẽ không đến được Lhasa.”
在它身旁与之并驾齐驱的,是服役半个多世纪、一度担负着80%进藏物资运输的青藏公路。这条公路北起青海西宁,途经格尔木,南抵西藏拉萨,沿途翻越昆仑山、唐古拉山、念青唐古拉山三大山脉,是109国道的一部分。
Song hành bên cạnh tuyến đường sắt này là đường bộ Thanh – Tạng, một tuyến đường đã phục vụ hơn nửa thế kỷ và từng đảm nhận tới 80% khối lượng vận chuyển vật tư vào Tây Tạng. Phía Bắc của tuyến đường này khởi đầu từ thành phố Tây Ninh của tỉnh Thanh Hải, đi qua Cách Nhĩ Mộc và phía nam kết thúc tại Lhasa ở Tây Tạng. Trên hành trình ấy, tuyến đường lần lượt vượt qua ba dãy núi lớn là Côn Luân Sơn, Đường Cổ Lạp Sơn và Niệm Thanh Đường Cổ Lạp Sơn, là một bộ phận của Quốc lộ 109.
在这条公路上,从青海格尔木向南至昆仑山口,一路海拔上升近2000米,是全程高差最为显著的一段。但在此后的近1000千米的路途中,公路海拔几乎一直保持在4000米以上,地表最大起伏仅有约800米。放眼望去,地势开阔平坦,只有远处连绵的雪峰、稀薄的空气,时刻提醒着人们这里是“世界屋脊”。因此,如果说川藏公路如同“上天入地”,那么青藏公路几乎是“修在天上的公路”。
Trên tuyến đường này, đoạn từ Cách Nhĩ Mộc của Thanh Hải đi về phía nam đến đèo Côn Luân có độ cao tăng gần 2.000 mét, là đoạn có sự chênh lệch độ cao rõ rệt nhất trên toàn tuyến. Tuy nhiên, trong gần 1.000 km tiếp theo, độ cao của tuyến đường gần như luôn duy trì trên 4.000 mét, độ chênh địa hình bề mặt tối đa chỉ khoảng 800 mét. Phóng tầm mắt ra xa, cảnh quan hiện ra quang đãng và bằng phẳng; chỉ có những dãy núi tuyết nối tiếp nhau ở phía chân trời cùng bầu không khí loãng luôn nhắc nhở con người rằng đây chính là “nóc nhà của thế giới”. Bởi vậy, nếu đường bộ Xuyên – Tạng được ví như một hành trình “lên trời, xuống đất”, thì đường bộ Thanh – Tạng gần như là “một con đường được xây dựng trên trời”.
青藏公路和青藏铁路经过楚玛尔河 / 摄影 杨奎
Đường bộ và đường sắt Thanh – Tạng đi qua sông Sở Mã Nhĩ / Nhiếp ảnh: Dương Khôi
青藏公路全线起伏平缓,它最大的挑战来自地表之下。
Toàn tuyến đường bộ Thanh – Tạng có địa hình tương đối bằng phẳng, nhưng thách thức lớn nhất của nó lại nằm dưới bề mặt đất.
青藏高原终年寒冷,岩土温度常低于0℃,其中的水分冻结成冰,导致冻土遍布。尤其在广袤的可可西里一带,公路沿线平均海拔约4600米,其下层岩土常年不化、坚硬无比,冻土厚度可达百余米,是为多年冻土区。随着海拔或纬度的降低,岩土冬季冻结,夏季消融,成为季节性冻土区。
Cao nguyên Thanh – Tạng quanh năm giá lạnh, nhiệt độ của đất đá thường thấp hơn 0°C. Nước chứa trong đất đóng thành băng, khiến tầng đất đóng băng (đất băng vĩnh cửu và đất đóng băng theo mùa) phân bố rộng khắp. Đặc biệt, tại vùng Khả Khả Tây Lý rộng lớn, tuyến đường đi qua khu vực có độ cao trung bình khoảng 4.600 mét; lớp đất đá phía dưới quanh năm không tan băng, cứng chắc vô cùng, với độ dày của tầng đất đóng băng có thể vượt quá một trăm mét. Đây chính là vùng đất băng vĩnh cửu. Khi độ cao hoặc vĩ độ giảm xuống, đất đá chỉ đóng băng vào mùa đông và tan băng vào mùa hè, hình thành vùng đất đóng băng theo mùa.
即便在多年冻土区,上层冻土也会融化和冻结。于是在冬季,岩土膨胀,导致地面隆起;而在夏季,冻土融化,严重时甚至如同一团稀泥,导致路基沉陷,成为修筑公路的一大难题。不仅如此,公路路面吸收和积聚热量,会加重冻土融化。黑色沥青路面受此影响最为严重,冻融作用使路面变得坑洼不平,车行其上颠簸异常,常被人们称为“搓板路”。
Ngay cả trong vùng đất đóng băng vĩnh cửu, lớp đất đóng băng ở phía trên vẫn trải qua quá trình tan băng và tái đóng băng theo mùa. Vì vậy, vào mùa đông, đất đá giãn nở khiến mặt đất nhô lên; còn vào mùa hè, tầng đất đóng băng tan chảy, trong trường hợp nghiêm trọng thậm chí biến thành một khối bùn nhão, làm nền đường bị lún sụt. Đây chính là một trong những thách thức lớn nhất đối với việc xây dựng đường bộ. Không chỉ vậy, mặt đường còn hấp thụ và tích tụ nhiệt lượng, khiến quá trình tan băng của tầng đất đóng băng diễn ra nghiêm trọng hơn. Mặt đường trải nhựa màu đen chịu ảnh hưởng nghiêm trọng nhất. Tác động lặp đi lặp lại của quá trình đóng băng – tan băng làm mặt đường trở nên lồi lõm, gồ ghề; xe cộ lưu thông trên đường bị xóc dữ dội. Người dân thường gọi loại mặt đường này là “đường ván giặt”.
青藏高原冻土分布示意
Sơ đồ phân bố đất đóng băng cao nguyên Thanh – Tạng
由于青藏高原独特的地理位置和气候变迁史、较高的海拔,这里长期拥有大面积的冻土,冻土的面积几乎占据青藏高原总面积的一半,这里也成为世界上中低纬度区域冻土面积最大的地区。不过,对青藏公路而言,冻土仅是众多难题之一。
Do vị trí địa lý đặc thù, lịch sử biến đổi khí hậu và độ cao lớn của cao nguyên Thanh – Tạng, nơi đây từ lâu đã tồn tại những vùng đất đóng băng rộng lớn. Diện tích đất đóng băng gần như chiếm một nửa tổng diện tích của toàn cao nguyên Thanh – Tạng, khiến khu vực này trở thành vùng có diện tích đất đóng băng lớn nhất thế giới trong các khu vực trung và vĩ độ thấp. Tuy nhiên, đối với tuyến đường bộ Thanh – Tạng, đất đóng băng chỉ là một trong vô số khó khăn phải đối mặt.
青藏公路全程跨越了多个地震活动带,强震和大震并不鲜见。2001年11月,昆仑山口西发生了里氏8.1级地震。由于是在无人区,此次地震未造成人员伤亡,但导致青藏公路多处发生断裂。
Tuyến đường Thanh – Tạng còn vắt qua nhiều đới hoạt động địa chấn, vì vậy các trận động đất mạnh và động đất lớn không phải là điều hiếm gặp. Tháng 11 năm 2001, khu vực phía tây đèo Côn Luân xảy ra một trận động đất mạnh 8,1 độ Richter. Do xảy ra ở vùng không có người sinh sống, trận động đất này không gây thương vong về người, nhưng đã khiến nhiều đoạn của tuyến đường Thanh – Tạng bị đứt gãy.
此外,滑坡和泥石流也是屡见不鲜,尤其是在念青唐古拉山一带。在拉萨西北90多千米的羊八井地区,道路两侧雪峰夹峙,山峰海拔多在6000米以上,最为高耸的是念青唐古拉峰,其海拔高达7162米。陡峭的山坡之上,巨石和泥石流似乎随时要倾泻而下。
Bên cạnh đó, sạt lở và lũ bùn đá cũng diễn ra thường xuyên, đặc biệt là tại khu vực dãy Niệm Thanh Đường Cổ Lạp. Ở vùng Dương Bát Tỉnh, cách Lhasa hơn 90 km về phía tây bắc, hai bên tuyến đường là những đỉnh núi tuyết sừng sững đối diện nhau; phần lớn các ngọn núi ở đây đều cao hơn 6.000 mét. Cao nhất trong số đó là đỉnh Niệm Thanh Đường Cổ Lạp, với độ cao lên tới 7.162 mét. Trên những sườn núi dốc đứng, những tảng đá khổng lồ và dòng chảy bùn đá dường như có thể đổ ập xuống bất cứ lúc nào.
正因为困难重重,仅用一年时间便建成通车的青藏公路,前前后后历经两次改造和两次整治,用了近50年的时间,全程才达到二级公路的标准。
Chính vì phải đối mặt với muôn vàn khó khăn như vậy mà tuyến đường Thanh – Tạng, dù chỉ mất một năm để hoàn thành và thông xe, nhưng trong suốt quá trình khai thác đã phải trải qua hai lần cải tạo và hai lần điều chỉnh quy mô lớn. Mất gần 50 năm, toàn tuyến mới đạt được tiêu chuẩn của loại đường cấp II.
如今,随着青藏铁路的建成,公路和铁路比肩而行。在不久的将来,京藏高速也将沿几乎相同的路线抵达拉萨,成为高原上新的工程奇迹。届时,齐头并进的三条道路,将是三个鲜明的时代印记。
Ngày nay, cùng với việc tuyến đường sắt Thanh – Tạng được hoàn thành, đường bộ và đường sắt đã song hành bên nhau trên cao nguyên. Trong tương lai không xa, tuyến cao tốc Bắc Kinh – Tây Tạng cũng sẽ đến Lhasa theo gần như cùng một hướng tuyến, trở thành một kỳ tích công trình mới trên vùng đất cao nguyên này. Khi đó, ba tuyến giao thông cùng tiến song song sẽ trở thành ba dấu ấn tiêu biểu của ba thời đại khác nhau.
三、边境长城
III. Vạn lý trường thành nơi biên cương
1951年8月底,一支新疆军区骑兵部队历尽艰辛,进入位于西藏最西边的阿里地区。这里群山环抱,土地荒芜,位置偏远,阿里地区行政公署驻地噶尔县与拉萨的直线距离就超过1000千米,相当于哈尔滨与北京的距离。
Cuối tháng 8 năm 1951, một đơn vị kỵ binh thuộc Quân khu Tân Cương, sau muôn vàn gian khổ, đã tiến vào khu vực A Lý nằm ở cực tây của Tây Tạng. Nơi đây được bao bọc bởi núi non trùng điệp, đất đai hoang vu, vị trí hết sức hẻo lánh. Ngay cả khoảng cách đường chim bay từ huyện Ngạc Nhĩ, nơi đặt trụ sở Hành chính khu vực A Lý đến Lhasa cũng hơn 1.000 km, tương đương với khoảng cách từ Cáp Nhĩ Tân đến Bắc Kinh.
在没有公路的年代,从拉萨向这里运输物资只能依靠牦牛和马匹,全程耗时可达一月有余。闭塞的交通,让驻守阿里的官兵常遭补给困难,卫戍边境没有保障,建设一条可供汽车行驶的交通命脉势在必行。
Trong thời kỳ chưa có đường bộ, việc vận chuyển vật tư từ Lhasa đến đây chỉ có thể dựa vào bò yak và ngựa thồ, toàn bộ hành trình thường mất hơn một tháng. Giao thông cách trở khiến lực lượng đồn trú tại A Lý thường xuyên rơi vào tình trạng thiếu hụt tiếp tế, công tác phòng thủ biên giới không được bảo đảm. Vì vậy, việc xây dựng một tuyến giao thông huyết mạch có thể lưu thông ô tô đã trở thành yêu cầu cấp thiết.
相较之下,从新疆南部和田、叶城等城镇到阿里的直线距离,仅是拉萨到阿里的一半左右。于是,在川藏、青藏公路通车两年后,一条连接新疆和西藏阿里地区的公路正式开工。
Ngược lại, khoảng cách đường chim bay từ các đô thị như Hòa Điền và Diệp Thành ở miền nam Tân Cương đến A Lý chỉ bằng khoảng một nửa quãng đường từ Lhasa đến A Lý. Vì thế, hai năm sau khi đường bộ Xuyên – Tạng và đường bộ Thanh – Tạng được thông xe, một tuyến đường mới nối Tân Cương với khu vực A Lý của Tây Tạng chính thức được khởi công xây dựng.
虽然从新疆进入西藏的距离较短,但横亘于两者之间的昆仑山和喀喇昆仑山是两道无法避开的天险,如遇大雪封山、洪水泥流,更是寸步难行。工程队别无选择,只能顶风冒雪,劈山开路。他们仅用19个月的时间,便打通了这条边疆生命线和战略交通线,全程共计1179千米。3年后,公路继续向拉萨方向延伸,在拉孜县和中尼公路相连,终结了新疆、阿里、拉萨三地无公路连接的历史,人称“新藏公路”。
Mặc dù khoảng cách từ Tân Cương đến Tây Tạng ngắn hơn, nhưng dãy Côn Luân và dãy Karakoram nằm chắn ngang giữa hai vùng đất này lại là hai chướng ngại thiên nhiên không thể tránh khỏi. Mỗi khi gặp tuyết lớn phong tỏa đường núi hoặc lũ bùn đá, việc đi lại gần như không thể thực hiện được. Đội ngũ xây dựng không còn lựa chọn nào khác ngoài việc đội gió, đạp tuyết, phá núi mở đường. Chỉ trong vòng 19 tháng, họ đã hoàn thành tuyến giao thông huyết mạch của vùng biên cương, đồng thời cũng là tuyến giao thông chiến lược đặc biệt quan trọng, với tổng chiều dài 1.179 km. Ba năm sau, tuyến đường tiếp tục được kéo dài về phía Lhasa, nối với đường bộ Trung Quốc – Nepal tại huyện Lạp Tư, chấm dứt lịch sử không có đường bộ kết nối giữa ba khu vực Tân Cương, A Lý và Lhasa. Tuyến đường này được gọi là đường bộ Tân – Tạng.
公路全程沿边境蜿蜒而行,距离国境线最近时仅有约30千米,如同一条绵延千里的边境长城,战略地位不言而喻。
Toàn tuyến uốn lượn ven theo khu vực biên giới; ở đoạn gần nhất, khoảng cách từ tuyến đường đến đường biên giới quốc gia chỉ khoảng 30 km. Tựa như một Vạn Lý Trường Thành nơi biên cương kéo dài hàng nghìn dặm, vị thế chiến lược của tuyến đường này là điều không cần phải bàn cãi.
白雪皑皑的喀喇昆仑山脉群峰 / 摄影 许先强
Những đỉnh núi trùng điệp phủ tuyết trắng của dãy Karakoram / Nhiếp ảnh: Hứa Tiên Cường
喀喇昆仑山脉平均海拔超过5500米,最高峰乔戈里峰海拔为8611米,是世界第二高峰。高耸入云的喀喇昆仑山,是新疆、西藏间天然的阻隔。
Dãy núi Karakoram có độ cao trung bình trên 5.500 mét. Đỉnh cao nhất của dãy núi này là đỉnh K2 (Kiều Qua Lý Phong), cao 8.611 mét, là ngọn núi cao thứ hai trên thế giới. Dãy Karakoram cao sừng sững lên tận mây xanh từ lâu đã trở thành bức tường tự nhiên ngăn cách giữa Tân Cương và Tây Tạng.
新藏公路的修建同样艰难异常。它在昆仑山脉翻越十多个雪山达坂,海拔4000米以上的路段长达915千米,海拔超过5000米的路段也达到130千米,堪称“天路中的天路”。
Việc xây dựng tuyến đường bộ Tân – Tạng cũng gian nan vô cùng. Tuyến đường phải vượt qua hơn mười đèo núi tuyết trên dãy Côn Luân; tổng chiều dài các đoạn đường nằm ở độ cao trên 4.000 mét lên tới 915 km, còn các đoạn ở độ cao trên 5.000 mét cũng đạt 130 km. Vì vậy, tuyến đường này được mệnh danh là “thiên lộ của những thiên lộ”.
新藏公路的起点是新疆叶城县,这里海拔仅为1480米,公路从这里出发,行进不到100千米便开始骤然爬升,直至海拔3150米的库地达坂(又称“阿卡孜达坂”,达坂在维吾尔语中意为“山口”)。这里地势险要,被称为新藏公路上的第一道“鬼门关”。而从昆仑山到喀喇昆仑山,是公路全程最为险峻的一段,海拔4900多米的麻扎达坂(又称“塞力亚克达坂”)和黑卡达坂,海拔5000多米的奇台达坂和界山达坂,以及海拔高达5378米的红土达坂均集中于此,每一个都让人心惊胆寒。
Điểm khởi đầu của đường bộ Tân – Tạng là huyện Diệp Thành, Tân Cương, nơi chỉ cao khoảng 1.480 mét so với mực nước biển. Từ đây, hành trình đi chưa đầy 100 km đã bắt đầu leo dốc đột ngột, tiến lên đèo Khố Địa ở độ cao 3.150 mét (còn gọi là đèo A Khắc Tư; trong tiếng Duy Ngô Nhĩ, daban có nghĩa là “đèo núi”). Địa thế nơi đây vô cùng hiểm trở, được mệnh danh là “Quỷ Môn Quan” đầu tiên trên tuyến đường bộ Tân – Tạng. Đoạn từ dãy Côn Luân đến dãy Karakoram là đoạn hiểm trở nhất trên toàn tuyến. Khu vực này tập trung nhiều đèo núi hiểm trở: đèo Ma Trát và đèo Hắc Kháp ở độ cao hơn 4.900 mét; đèo Kỳ Đài và đèo Giới Sơn ở độ cao trên 5.000 mét; cùng với đèo Hồng Thổ cao tới 5.378 mét. Mỗi con đèo đều là một thử thách gian nan.
离开喀喇昆仑山区,则会到达较为平缓的地带。从噶尔县起,新藏公路在冈底斯山脉和喜马拉雅山脉之间的夹缝中穿行,途经一众神山的山脚下,串起大大小小的山间谷地,才终于抵达日喀则的拉孜县。
Rời khỏi khu vực núi Karakoram, địa hình dần trở nên thoải hơn. Bắt đầu từ huyện Ngạc Nhĩ, tuyến đường bộ Tân – Tạng men theo dải đất nằm giữa dãy Cương Địch Tư và dãy Himalaya, đi qua chân của nhiều ngọn thần sơn, nối liền các thung lũng lớn nhỏ giữa núi non, trước khi cuối cùng đến huyện Lạp Tư thuộc Nhật Khách Tắc.
在西藏,新藏公路的大部分行进于喜马拉雅山脉和冈底斯山脉之间。受巍峨绵延的喜马拉雅山脉的阻挡,来自印度洋的水汽难以到达,沿线干旱异常,年均降水量最低时仅有约50毫米,与巴丹吉林沙漠一带的降水量相当。干旱的气候形成了干燥疏松的粉土,极不适于修筑路基,加之冻土融化、边坡坍塌,致使新藏线的修建尤为艰难。
Ở Tây Tạng, phần lớn tuyến đường bộ Tân – Tạng chạy giữa dãy Himalaya và dãy Cương Địch Tư. Do bị dãy Himalaya hùng vĩ và kéo dài ngăn chắn, hơi ẩm từ Ấn Độ Dương rất khó xâm nhập vào khu vực này, khiến khí hậu dọc tuyến đặc biệt khô hạn. Lượng mưa trung bình năm thấp nhất chỉ khoảng 50 mm, tương đương với lượng mưa ở vùng sa mạc Badain Jaran. Khí hậu khô hạn đã hình thành lớp đất bụi khô, tơi xốp, hết sức bất lợi cho việc xây dựng nền đường. Cộng thêm hiện tượng tan băng của tầng đất đóng băng và sụt lở mái dốc, việc xây dựng tuyến Tân – Tạng trở nên đặc biệt khó khăn.
1957年打通的叶城到噶尔段,路面仅以简易的砂砾铺就,最窄处仅有2.5米,经过前后40余年的改造,才终于达到四级公路标准。直到2013年10月,新藏公路完成柏油路面改造,全程全年均可通行,成为一条名副其实的国家级公路,是219国道的一部分。
Đoạn đường từ Diệp Thành đến Ngạc Nhĩ được thông tuyến vào năm 1957, khi đó mặt đường chỉ được phủ đơn giản bằng sỏi đá, nơi hẹp nhất chỉ rộng 2,5 mét. Sau hơn 40 năm cải tạo và nâng cấp, tuyến đường này mới đạt tiêu chuẩn đường cấp IV. Mãi đến tháng 10 năm 2013, công trình cải tạo mặt đường nhựa của tuyến đường bộ Tân – Tạng mới hoàn thành, cho phép lưu thông quanh năm trên toàn tuyến, trở thành một tuyến quốc lộ đúng nghĩa và là một bộ phận của Quốc lộ 219.
四、不凡之路
IV. Con đường phi thường
至此,与西藏相邻的四川、青海和新疆都已修通连接西藏的国家级公路,只待打通最后一个邻省,这便是滇藏公路的修建。
Đến nay, ba tỉnh và khu tự trị giáp với Tây Tạng là Tứ Xuyên, Thanh Hải và Tân Cương đều đã có những tuyến quốc lộ kết nối với Tây Tạng. Chỉ còn lại tỉnh láng giềng cuối cùng chưa được liên thông, đó là công tác xây dựng đường bộ Điền – Tạng (Vân Nam – Tây Tạng).
和横穿横断山区的川藏公路不同,滇藏公路沿着横断山区的纵谷自南向北缓慢攀升,沿途的大理、丽江、香格里拉等地人气爆满,游人如织,充满烟火气息。它还有“高冷”的一面,沿途或经过雪山脚下,或掠过大河边缘。在德钦附近翻越芒康山—云岭一脉后,则进入坡陡谷深、滑坡频发的峡谷,和澜沧江并排而行。滇藏公路的实际施工期长达11年半,最后在芒康与川藏南线会合,成为214国道的一部分。
Khác với đường bộ Xuyên – Tạng băng ngang vùng núi Hoành Đoạn, đường bộ Điền – Tạng men theo các thung lũng dọc của khu vực Hoành Đoạn, từ nam lên bắc chầm chậm leo cao. Dọc tuyến là những địa danh nổi tiếng như Đại Lý, Lệ Giang và Shangri-La, nơi lúc nào cũng đông đúc du khách, tràn ngập hơi thở cuộc sống. Tuy nhiên, tuyến đường này cũng có một vẻ đẹp “lạnh lùng và kiêu hãnh” của vùng cao nguyên. Trên hành trình, con đường khi thì đi qua chân những ngọn núi tuyết, khi lại lướt qua mép những dòng sông lớn. Sau khi vượt qua nhánh núi Mãng Khang – Vân Lĩnh gần Đức Khâm, tuyến đường tiến vào khu vực hẻm núi có sườn dốc đứng, thung lũng sâu và sạt lở xảy ra thường xuyên, rồi chạy song song với dòng Lan Thương. Thời gian thi công thực tế của đường bộ Điền – Tạng kéo dài tới 11 năm rưỡi. Cuối cùng, gặp tuyến Nam của đường bộ Xuyên – Tạng tại Mãng Khang và trở thành một phần của Quốc lộ 214.
滇藏公路经过梅里雪山 / 摄影 姜曦
Đường bộ Điền – Tạng đi qua dãy núi Tuyết Mai Lý / Nhiếp ảnh: Khương Hy
滇藏公路在山体盘旋,远处是梅里雪山最高峰卡瓦格博峰。公路继续往前延伸,就下降到澜沧江峡谷,再沿澜沧江峡谷而上,就可从云南进入西藏。
Đường bộ Vân Tạng uốn lượn quanh sườn núi, phía xa là đỉnh Kawagarbo – ngọn cao nhất của dãy núi Tuyết Mai Lý. Con đường tiếp tục vươn về phía trước, đổ xuống thung lũng sông Lan Thương, rồi men theo khe núi của dòng sông ngược lên thượng nguồn, từ đó nối liền Vân Nam với Tây Tạng.
5条国道主动脉相继建成,加上穿越众多高原湖泊的安狮公路(安多到噶尔县所在的狮泉河镇,即西藏自治区区道S 301),以及多条通向国境线的省道公路,西藏地区的公路交通网络正式形成“两横三纵六通道”的格局。截至2020年,西藏的公路通车总里程达11.7万千米,雪域“天堑”正在变成通途。
Năm tuyến quốc lộ huyết mạch lần lượt được hoàn thành, cùng với đường bộ An–Sư băng qua nhiều hồ cao nguyên (từ huyện An Đa đến thị trấn Sư Tuyền Hà thuộc huyện Ngari, tức tỉnh lộ S301 của Khu tự trị Tây Tạng) và nhiều tuyến đường cấp tỉnh vươn tới biên giới quốc gia, đã chính thức hình thành mạng lưới giao thông đường bộ Tây Tạng với “hai tuyến ngang, ba tuyến dọc, sáu hành lang kết nối”. Tính đến năm 2020, tổng chiều dài đường bộ đưa vào khai thác tại Tây Tạng đã đạt 117 nghìn kilômét. Vùng băng tuyết từng bị xem là “thiên tiệm” với núi cao vực thẳm chia cắt, đi lại vô cùng gian nan, nay đang từng bước trở thành vùng đất giao thông thông suốt, bốn phương kết nối.
通往西藏之路
Con đường kết nối Tây Tạng
在1951年西藏和平解放之前,西藏没有一条现代意义上的公路,曾经的交通状况严重制约了西藏社会和经济的发展。新中国成立以来,为打通进出西藏的道路,国家投入大量人力、物力、财力,“世界屋脊”不再遥远。其中,从与西藏相邻的省份出发,形成了5条主要的进藏公路。
Năm 195, trước khi Tây Tạng được giải phóng và hòa bình, nơi đây không có lấy một tuyến đường bộ theo đúng nghĩa hiện đại. Điều kiện giao thông lạc hậu khi ấy đã trở thành lực cản nghiêm trọng đối với sự phát triển kinh tế và xã hội của Tây Tạng. Kể từ khi nước Trung Quốc mới được thành lập, nhằm khai thông các tuyến giao thông ra vào Tây Tạng, Nhà nước đã đầu tư một khối lượng to lớn về nhân lực, vật lực và tài lực, khiến “Nóc nhà của thế giới” không còn là miền đất xa xôi cách trở. Từ các tỉnh tiếp giáp với Tây Tạng, năm tuyến đường bộ chính tiến vào Tây Tạng đã dần được hình thành.
如今,距离康藏公路凿开第一块路石已经过去70余年。这几十年里,全国的交通工程高歌猛进,尤其在人口密集的中东部地区,从国道到高速,从动车到高铁,发展日新月异。然而在世界屋脊之上,每寸公路的修建都艰辛异常。
Đến nay, hơn bảy mươi năm trôi qua kể từ ngày tuyến đường Khang – Tạng cuốc nhát cuốc đầu tiên mở đường xuyên núi. Trong suốt những thập niên ấy, các công trình giao thông trên khắp Trung Quốc đã phát triển mạnh mẽ với tốc độ vượt bậc. Đặc biệt tại các khu vực miền Trung và miền Đông dân cư đông đúc, từ quốc lộ đến đường cao tốc, từ tàu động lực đến đường sắt cao tốc, hạ tầng giao thông không ngừng đổi mới từng ngày. Thế nhưng, trên “Nóc nhà của thế giới”, việc xây dựng từng mét đường vẫn là một hành trình vô cùng gian nan.
但正是这些“修在天上”的道路,让西藏彻底告别了人背畜驮的时代,将西藏与全国各地紧密相连,也形成一条条著名的观景大道,它们在中国乃至世界公路史上都堪称“不凡之路”。
Chính những con đường “được xây giữa lưng trời” ấy đã giúp Tây Tạng khép lại thời kỳ vận chuyển hàng hóa bằng “Cửu vạn” gùi cõng và gia súc thồ hàng. Chúng không chỉ gắn kết Tây Tạng chặt chẽ với mọi miền đất nước mà còn tạo nên những đại lộ ngắm cảnh nổi tiếng, được xem là những “con đường phi thường” trong lịch sử giao thông đường bộ của Trung Quốc, thậm chí của cả thế giới.
它们蜿蜒在雪域高原上,不论是沿途的风景,还是背后的故事,都值得人们去探寻和发现。
Uốn lượn giữa cao nguyên tuyết phủ mênh mông, những con đường ấy không chỉ mở ra khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ dọc hai bên tuyến mà còn chứa đựng biết bao câu chuyện lịch sử và nhân văn, luôn thôi thúc con người lên đường khám phá và tìm hiểu./.
编译 Biên dịch: Bùi Thị Tiệp (裴碧捷)
校对 Hiệu đính: 冯超 (Phùng Siêu)
排版 Sắp chữ: 穆锦怡 (Mục Cẩm Di)
源自:这里是中国2 - ④ 进藏之路 此路只应天上有 - 星球研究所 - 微信读书
Nguồn tin: Đây là Trung Quốc 2 - ④ Con đường đi đến Tây Tạng - Con đường rơi xuống trần gian từ trên trời - Viện Nghiên cứu Hành tinh - WeChat Reading
Liên hệ chúng tôi
Trung tâm báo chí, Phòng Tuyên truyền Đảng ủy SISU
Tel : +86 (21) 3537 2378
Email : news@shisu.edu.cn
Address :550 phố Đại Liên Tây, Thượng Hải, Trung Quốc
