Liên hệ chúng tôi

Trung tâm báo chí, Phòng Tuyên truyền Đảng ủy SISU

Tel : +86 (21) 3537 2378

Email : news@shisu.edu.cn

Address :550 phố Đại Liên Tây, Thượng Hải, Trung Quốc

Tin cũ

电力 | Điện lực


20 July 2026 | By viadmin | SISU

电力

Điện lực

    

2019年世界部分国家发电量

Sản lượng điện của một số quốc gia trên thế giới năm 2019

根据BP(英国石油)公司在2020年发布的《BP世界能源统计年鉴》2019年全球总发电量首次超过27万亿度。而中国的发电量继续稳居世界第一,约占全球总发电量的27.8%。自2011年起,中国的发电量就一直位居世界第一。

Theo Niên giám Thống kê Năng lượng Thế giới do Công ty BP (British Petroleum) công bố năm 2020, tổng sản lượng điện toàn cầu trong năm 2019 lần đầu tiên vượt mốc 27 nghìn tỷ kWh. Trong đó, sản lượng điện của Trung Quốc tiếp tục đứng đầu thế giới, chiếm khoảng 27,8% tổng sản lượng điện toàn cầu. Kể từ năm 2011, Trung Quốc liên tục giữ vị trí quốc gia có sản lượng điện lớn nhất thế giới.

一、68.9%

在这73266亿千瓦时的电力中,68.9%来自火力发电,火力发电占据了全国电力的大半壁江山。

Trong tổng số 7.326,6 tỷ kWh điện năng được sản xuất, có 68,9% đến từ nhiệt điện. Nhiệt điện giữ vị trí chủ đạo trong cơ cấu phát điện của Trung Quốc.

高耸的烟囱或冷却塔,是火力发电厂(简称火电厂)最常见的标志。煤炭、石油、天然气,甚至秸秆、垃圾等,都可用作火力发电的燃料。由于燃料易得,技术成熟,火电厂在全国分布广泛,遍布大江南北。在中国这个煤炭大国,火力发电将注定成为燃煤电厂的天下。

Những ống khói cao vút hoặc các tháp giải nhiệt đồ sộ là dấu hiệu nhận biết phổ biến nhất của các nhà máy nhiệt điện. Than đá, dầu mỏ, khí tự nhiên, thậm chí cả rơm rạ và rác thải sinh hoạt đều có thể được sử dụng làm nhiên liệu cho phát nhiệt điện. Nhờ nguồn nhiên liệu tương đối dễ kiếm và công nghệ đã phát triển chín muồi, các nhà máy nhiệt điện được phân bố rộng khắp trên cả nước, từ Bắc chí Nam. Đối với Trung Quốc, một “cường quốc về than đá” nhiệt điện tất yếu lấy các nhà máy điện than làm lực lượng chủ đạo.

2019年,燃煤电厂的装机容量在火电厂中的占比达到近90%。全国5300多处大小煤矿年产约38.5亿吨原煤,其中近60%被运往火电厂,以供发电。这意味着火力发电必然与煤炭的生产息息相关。到2018年,在煤炭资源丰富的北方地区,火电装机容量的占比接近70%,是最主要的电力来源。

Năm 2019, công suất lắp đặt của các nhà máy điện than chiếm gần 90% tổng công suất lắp đặt của các nhà máy nhiệt điện. Hơn 5.300 mỏ than lớn nhỏ trên cả nước mỗi năm khai thác khoảng 3,85 tỷ tấn than, trong đó gần 60% được vận chuyển đến các nhà máy nhiệt điện để phục vụ phát điện. Điều này cho thấy phát nhiệt điện có mối quan hệ gắn bó mật thiết với hoạt động khai thác và cung ứng than đá. Đến năm 2018, tại các khu vực có trữ lượng than phong phú ở phía Bắc, công suất lắp đặt nhiệt điện chiếm gần 70% tổng công suất nguồn điện, trở thành nguồn cung cấp điện năng quan trọng nhất của khu vực.

 

火电厂的冷却塔和烟囱 / 摄影 林宇先

Tháp làm mát và ống khói của nhà máy nhiệt điện than / Nhiếp ảnh: Lâm Vũ Tiên

例如,2018年,广东一省的火力发电量就达到3283亿千瓦时,比产煤大省山西还要高近20%。要发出如此量级的电量,用于发电的煤炭必将以亿吨计算。然而,像广东这样的电力负荷中心并非煤炭的主要产区,与距离最近的煤炭基地也有千里之遥,如此大量的煤炭从何而来?

Chẳng hạn, chỉ riêng tỉnh Quảng Đông trong năm 2018 đã sản xuất tới 328,3 tỷ kWh điện từ nhiệt điện, cao hơn gần 20% so với tỉnh Sơn Tây, một địa phương lớn về khai thác than đá. Để tạo ra sản lượng điện ở quy mô như vậy, lượng than sử dụng cho phát điện chắc chắn phải được tính bằng hàng trăm triệu tấn. Tuy nhiên, những trung tâm phụ tải điện như Quảng Đông lại không phải là vùng sản xuất than chủ yếu, thậm chí các trung tâm khai thác than gần nhất cũng nằm cách đó hàng nghìn kilômét. Vậy, nguồn cung cho khối lượng than khổng lồ ấy rốt cuộc đến từ đâu?

         

要回答这个问题,我们不妨先将目光转移到山西大同和河北秦皇岛,一条声名赫赫的铁路将两地相连,这便是大秦铁路。

Để trả lời câu hỏi này, chúng ta hãy chuyển hướng quan sát đến thành phố Đại Đồng của tỉnh Sơn Tây và thành phố Tần Hoàng Đảo của tỉnh Hà Bắc. Nối liền hai địa phương này là một tuyến đường sắt lừng danh – đường sắt Đại Tần.

大秦铁路是我国的第一条重载铁路,单列列车全长可达近4000米,相当于1020列高铁列车相连。更厉害之处在于,它以不到全国铁路0.5%的营运里程,完成了全国铁路系统近20%的煤炭量运输,相当于每秒有14吨煤炭从大同运出,奔向渤海之滨的秦皇岛,最后以海运的方式被运至东南沿海各省。

Đường sắt Đại Tần là tuyến đường sắt chuyên chở hàng nặng đầu tiên của Trung Quốc. Chiều dài của một đoàn tàu đơn lẻ có thể đạt gần 4.000 mét, tương đương với việc nối liền từ 10 đến 20 đoàn tàu cao tốc. Điều đáng kinh ngạc hơn là, với chiều dài khai thác chưa đến 0,5% tổng chiều dài đường sắt đang vận hành của cả nước, tuyến đường này lại đảm nhiệm gần 20% khối lượng vận chuyển than bằng đường sắt trên toàn quốc. Điều đó có nghĩa là, trung bình mỗi giây có khoảng 14 tấn than được vận chuyển từ Đại Đồng đến thành phố cảng Tần Hoàng Đảo bên bờ biển Bột Hải, rồi từ đây tiếp tục được đưa bằng đường biển đến các tỉnh ven biển phía Đông Nam.

2008年春节期间,南方地区遭遇雨雪冰冻灾害,大量输电和运输线路受损,近17个省份被迫拉闸限电。这期间,大量的煤炭由大秦铁路被源源不断送往南方,其单日运量就突破100万吨,并持续20天之久,可谓真正的雪中送炭。

Trong dịp Tết Nguyên đán năm 2008, khu vực miền Nam Trung Quốc hứng chịu một đợt thiên tai mưa tuyết và băng giá nghiêm trọng, khiến hàng loạt tuyến truyền tải điện và giao thông bị hư hại, buộc gần 17 tỉnh, thành phải áp dụng biện pháp cắt điện luân phiên. Trong thời gian đó, một lượng than khổng lồ đã được vận chuyển liên tục từ Bắc xuống Nam thông qua đường sắt Đại Tần. Sản lượng vận chuyển trong một ngày của tuyến đường này đã vượt 1 triệu tấn và duy trì liên tục trong suốt 20 ngày, thực sự là sự “tiếp tế đúng lúc trong cơn bão tuyết”.

大秦铁路只是中国煤炭运输铁路网络的冰山一角。20199月,世界营运里程最长的重载铁路——浩吉铁路建成。这是一条纵贯南北的能源运输大通道,它北起内蒙古鄂尔多斯的浩勒报吉,途经内蒙古、陕西、山西、河南、湖北、湖南、江西7省区,终点为江西吉安,线路里程超过1800千米。全线的建成将使北煤南运的规模继续扩大,对于改善我国能源输送结构有重要的战略意义。

Tuy nhiên, đường sắt Đại Tần chỉ là phần nổi của tảng băng trong mạng lưới đường sắt vận chuyển than của Trung Quốc. Tháng 9 năm 2019, đường sắt Hạo Cát, tuyến đường sắt chuyên chở hàng nặng có chiều dài khai thác lớn nhất thế giới chính thức được đưa vào vận hành. Đây là một đại hành lang vận chuyển năng lượng chạy xuyên suốt theo hướng Bắc – Nam, khởi đầu từ thị trấn Hạo Lặc Báo Cát thuộc thành phố Ordos, Khu tự trị Nội Mông, đi qua bảy tỉnh, khu tự trị gồm Nội Mông, Thiểm Tây, Sơn Tây, Hà Nam, Hồ Bắc, Hồ Nam và Giang Tây, trước khi kết thúc tại thành phố Cát An của tỉnh Giang Tây. Tổng chiều dài tuyến vượt 1.800 km. Việc hoàn thành toàn tuyến sẽ tiếp tục mở rộng quy mô vận chuyển than từ Bắc vào Nam, mang ý nghĩa chiến lược quan trọng trong việc cải thiện cơ cấu vận chuyển và phân bổ năng lượng của Trung Quốc.

 

大秦铁路穿过北京昌平段隧道 / 摄影 王嘉

Đường sắt Đại Tần đi qua đường hầm đoạn Xương Bình, Bắc Kinh /Nhiếp ảnh: Vương Gia

目前我国最高电压等级已达到交流1000千伏和直流±1100千伏,单条线路的输电距离更是突破3000千米,这相当于乌鲁木齐到南京的直线距离,在全世界首屈一指。

Hiện nay, cấp điện áp cao nhất của Trung Quốc đã đạt 1.000 kV đối với dòng điện xoay chiều (AC) và ±1.100 kV đối với dòng điện một chiều (DC). Khoảng cách truyền tải điện của một tuyến đơn lẻ thậm chí đã vượt 3.000 km, tương đương với khoảng cách đường chim bay từ Urumqi đến Nam Kinh, giữ vị trí hàng đầu thế giới.

铁路和输电两张网络纵横交错,让无论是位于负荷中心,还是处在坑口和港口附近的火电厂都能共同发力,组成我国电力工业的中流砥柱。

Mạng lưới đường sắt và mạng lưới truyền tải điện đan xen, tạo điều kiện để các nhà máy nhiệt điện, dù nằm tại các trung tâm phụ tải điện hay ở khu vực gần mỏ than và cảng biển, đều có thể phối hợp phát huy hiệu quả, cùng nhau trở thành lực lượng trụ cột của ngành công nghiệp điện lực Trung Quốc.

然而,尽管火电厂的除尘、脱硫、脱硝技术日益成熟,但化石燃料的消耗、温室气体的排放,让人们不得不继续寻找更为清洁的电力,水电便是其中之一。

Tuy nhiên, mặc dù các công nghệ khử bụi, khử lưu huỳnh và khử ôxít nitơ tại các nhà máy nhiệt điện ngày càng hoàn thiện, thì việc tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch và phát thải khí nhà kính vẫn buộc con người phải tiếp tục tìm kiếm những nguồn điện sạch hơn. Thủy điện chính là một trong những lựa chọn như vậy.

 

特高压九华密集通道 / 摄影 丁永清·国家电网

Hành lang truyền tải điện siêu cao áp Cửu Hoa / Nhiếp ảnh: Đinh Vĩnh Thanh · Lưới điện Quốc gia

特高压九华密集通道位于安徽池州,承担着向华东地区输送电力的重要任务。该通道五回特高压线路和两回超高压线路并行,通道最窄处仅273米。

Hành lang tập trung các tuyến truyền tải điện siêu cao áp Cửu Hoa nằm tại thành phố Trì Châu, tỉnh An Huy, gánh vác nhiệm vụ quan trọng là truyền tải điện năng đến khu vực Hoa Đông. Trong hành lang này, năm tuyến đường dây truyền tải điện siêu cao áp (UHV) và hai tuyến đường dây siêu cao áp (EHV) được bố trí chạy song song; tại vị trí hẹp nhất, bề rộng của hành lang chỉ 273 mét.

二、 86.7%

在我国,无论是水力资源的蕴藏总量,还是其可开发的装机容量,均稳居世界第一位。如此丰富的水能资源,如此巨大的开发潜力,使得水力发电在我国注定拥有重要地位。

Ở Trung Quốc, dù xét về tổng trữ lượng tài nguyên thủy năng hay công suất lắp đặt có thể khai thác, Trung Quốc đều đứng đầu thế giới. Nguồn tài nguyên nước dồi dào cùng tiềm năng phát triển to lớn ấy, đã định hình vị thế đặc biệt quan trọng của thủy điện trong cơ cấu năng lượng quốc gia.

2019年,全国水力发电量占全国总发电量的17.8%,与火力发电一起供给了全国86.7%的电力。

Năm 2019, sản lượng điện từ thủy điện chiếm 17,8% tổng sản lượng điện cả nước. Cùng với nhiệt điện, hai loại hình này đã cung cấp 86,7% lượng điện năng của Trung Quốc.

水力发电利用流水势能持续推动水轮机旋转,继而带动发电机产生电力,全程既不需要燃料,也不产生废气,十分清洁。2019年,全国水力发电量达13021亿千瓦时,相当于节约4亿吨标准煤。此外,水电站兼具防洪、航运、供水、调水、排沙等功能,还可在上游库区形成别具一格的景观。

Thủy điện khai thác thế năng của dòng nước chảy để liên tục làm quay tuabin nước, từ đó kéo máy phát điện hoạt động và tạo ra điện năng. Trong toàn bộ quá trình này không cần tiêu thụ nhiên liệu và cũng không phát sinh khí thải, vì vậy đây là một nguồn năng lượng rất sạch. Năm 2019, sản lượng thủy điện toàn quốc đạt 1.302,1 tỷ kWh, tương đương với việc tiết kiệm khoảng 400 triệu tấn than tiêu chuẩn. Ngoài chức năng phát điện, các nhà máy thủy điện còn có thể đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ khác như phòng chống lũ lụt, hỗ trợ giao thông đường thủy, cấp nước, điều tiết nguồn nước và xả bùn cát, các hồ chứa ở thượng nguồn cũng tạo nên những cảnh quan thiên nhiên đặc sắc.

在我国,水力资源分布极不均衡。西南地区高山峡谷众多,大江大河穿流其间,奔腾而下,几乎集中了全国超过60%的可开发水力资源。根据全国水利资源普查成果与现实的情况,我国规划了十三大水电基地,其中位于西南地区的水电基地便占了7席。

Tuy nhiên, tài nguyên thủy năng của Trung Quốc phân bố hết sức không đồng đều. Khu vực Tây Nam có địa hình núi cao, vực sâu dày đặc; các con sông lớn chảy xuyên qua những dãy núi rồi đổ dốc mạnh xuống hạ lưu, tập trung hơn 60% tổng nguồn thủy năng có thể khai thác của cả nước. Dựa trên kết quả điều tra tổng thể về tài nguyên nước và điều kiện thực tế, Trung Quốc đã quy hoạch 13 căn cứ thủy điện trọng điểm, trong đó riêng khu vực Tây Nam đã chiếm tới 7 căn cứ.

和火力发电不同,水电的原料无法进行运输。若要将电力送往负荷中心,除了依靠输电工程,别无他法。这意味着水力发电必将与远距离输电技术相伴相生。我国第一条万伏级交流输电线路、第一条110千伏和220千伏高压交流线路、第一条330千伏超高压交流线路及第一条超高压直流输电线路,因此相继诞生。

Khác với nhiệt điện, “nguyên liệu” của thủy điện không thể vận chuyển đến nơi khác. Muốn đưa điện năng tới các trung tâm phụ tải, ngoài việc dựa vào các công trình truyền tải điện thì hầu như không còn lựa chọn nào khác. Điều này đồng nghĩa với việc thủy điện luôn gắn liền với sự tiến bộ của công nghệ truyền tải điện đường dài. Chính vì vậy, tuyến truyền tải điện xoay chiều cấp vạn vôn đầu tiên, tuyến truyền tải điện xoay chiều cao áp 110 kV và 220 kV đầu tiên, tuyến truyền tải điện xoay chiều siêu cao áp 330 kV đầu tiên, cũng như tuyến truyền tải điện một chiều siêu cao áp đầu tiên của Trung Quốc đã lần lượt ra đời.

1988年年底,著名的葛洲坝水电站建成,它是长江上的第一座大型水电站,其大坝被人们称为万里长江第一坝。与之配套建成的便是我国的首个超高压直流输电工程,其电压等级达到±500千伏,以1046千米的输电距离将华中和华东电网连为一体,葛洲坝水电站的电力得以源源不断地被送到上海。

Cuối năm 1988, Nhà máy Thủy điện Cát Châu Bá chính thức hoàn thành. Đây là nhà máy thủy điện quy mô lớn đầu tiên trên sông Trường Giang, còn con đập của nó được mệnh danh là “Đệ nhất đập trên Vạn lý Trường Giang”. Song hành với công trình này là dự án truyền tải điện một chiều siêu cao áp đầu tiên của Trung Quốc. Với cấp điện áp ±500 kV và khoảng cách truyền tải lên tới 1.046 km, dự án đã kết nối lưới điện Hoa Trung với lưới điện Hoa Đông thành một thể thống nhất, cho phép nguồn điện từ Cát Châu Bá liên tục được truyền đến Thượng Hải.

世界上规模最大的水电站——三峡水电站的装机容量可达2250万千瓦,这相当于8个葛洲坝水电站,或3个内蒙古托克托电厂。2018年,三峡水电站的全年发电量首次突破1000亿千瓦时,相当于同年湖北省全省发电量的36.6%,成为当年全球水力发电量最大的发电站。千里之外的江苏、广东和上海三地,通过三条±500千伏的直流输电线路与这个超级发电机紧密相连。

Nhà máy Thủy điện Tam Hiệp, công trình thủy điện có quy mô lớn nhất thế giới, sở hữu công suất lắp đặt lên tới 22,5 triệu kW, tương đương 8 nhà máy đập Cát Châu hoặc 3 Nhà máy Nhiệt điện Thác Khắc Thác (Tuoketuo) ở Nội Mông. Năm 2018, sản lượng điện cả năm của Tam Hiệp lần đầu tiên vượt mốc 100 tỷ kWh, tương đương 36,6% tổng sản lượng điện của toàn tỉnh Hồ Bắc trong cùng năm, trở thành nhà máy thủy điện có sản lượng phát điện lớn nhất thế giới. Cách đó hàng nghìn kilômét, các địa phương Giang Tô, Quảng Đông và Thượng Hải được kết nối chặt chẽ với “siêu máy phát điện” này thông qua ba tuyến truyền tải điện một chiều ±500 kV.

而随着云南小湾水电站开始发电,全球首个±800千伏特高压直流输电工程登上历史舞台。其输电距离约为1400千米,可将电力从云南一路送至广东。自此,曾经落后世界数十年的中国迈入特高压直流输电时代,我国水电的辐射空间大幅扩大,众多大型水电站在西南地区相继建成,西南的电力源源不断地被送到遥远的东部和东南部。

Khi Nhà máy Thủy điện Tiểu Loan tại Vân Nam bắt đầu phát điện, công trình truyền tải điện một chiều siêu cao áp ±800 kV đầu tiên trên thế giới cũng chính thức đi vào lịch sử ngành điện lực. Tuyến đường dây này có chiều dài khoảng 1.400 km, đưa điện năng từ Vân Nam đến tận Quảng Đông. Từ đây, Trung Quốc quốc gia từng kém cỏi hàng chục năm so với thế giới trong lĩnh vực này, đã bước vào kỷ nguyên truyền tải điện một chiều siêu cao áp. Phạm vi phân phối điện từ các nhà máy thủy điện được mở rộng đáng kể; hàng loạt công trình thủy điện quy mô lớn lần lượt được xây dựng tại Tây Nam, đưa nguồn điện của khu vực này liên tục chảy về miền Đông và Đông Nam xa xôi.

位于金沙江下游的向家坝水电站,通过长约1900千米的±800千伏直流特高压输电线路,跨越8个省份,每年向上海输电近300亿千瓦时,这相当于上海2018年用电量的20%。同样位于金沙江的溪洛渡水电站看起来更加宏伟,其拱坝坝高285.5米,相当于90多层的摩天大楼。其装机容量则达1386万千瓦,目前为世界第三大水电站。而溪洛渡浙西±800千伏的输电线路,更以800万千瓦的输电容量,一度跻身全球容量最大的直流输电工程。位于四川雅砻江的锦屏一级水电站建有世界最高的拱坝,其高度达305米,它向苏南地区输电的±800千伏直流输电工程,传输距离首次突破2000千米大关。

Nhà máy Thủy điện đập Hướng Gia ở hạ lưu sông Kim Sa thông qua tuyến truyền tải điện một chiều siêu cao áp ±800 kV dài khoảng 1.900 km, chạy qua địa bàn của tám tỉnh, mỗi năm cung cấp cho Thượng Hải gần 30 tỷ kWh điện, tương đương khoảng 20% lượng điện tiêu thụ của thành phố trong năm 2018. Cũng nằm trên sông Kim Sa, Nhà máy Thủy điện Khê Lạc Độ còn để lại ấn tượng mạnh hơn về quy mô. Đập vòm của công trình cao tới 285,5 mét, tương đương một tòa nhà chọc trời hơn 90 tầng. Công suất lắp đặt đạt 13,86 triệu kW, hiện là nhà máy thủy điện lớn thứ ba thế giới. Tuyến truyền tải điện một chiều siêu cao áp ±800 kV Khê Lạc Độ – Tây Chiết Giang từng sở hữu công suất truyền tải lên tới 8 triệu kW, một thời là công trình truyền tải điện một chiều có công suất lớn nhất toàn cầu. Trong khi đó, Nhà máy Thủy điện Cẩm Bình I trên sông Nhã Lung (Yalong) của tỉnh Tứ Xuyên sở hữu đập vòm cao nhất thế giới với chiều cao 305 mét. Dự án truyền tải điện một chiều ±800 kV đưa điện từ đây tới khu vực Nam Giang Tô cũng là công trình đầu tiên của Trung Quốc có khoảng cách truyền tải vượt mốc 2.000 km.

当然,水电的开发并不是无限的,它还面临着库区淹没、移民安置、生态保护等问题。水电之外,人们在寻找更合适的清洁能源,其中最主要的便是风能和光能。

Dĩ nhiên, việc khai thác thủy điện không thể mở rộng mãi mãi. Quá trình phát triển thủy điện vẫn phải đối mặt với nhiều vấn đề như ngập lụt khu vực hồ chứa, tái định cư dân cư, bảo vệ môi trường sinh thái và duy trì cân bằng tự nhiên. Vì vậy, bên cạnh thủy điện, con người vẫn tiếp tục tìm kiếm những nguồn năng lượng sạch phù hợp hơn, trong đó quan trọng nhất là năng lượng gió và năng lượng mặt trời.

 

三峡水电站 / 供图 中国电建

Nhà máy thủy điện Tam Hiệp / Đơn vị cung cấp ảnh: PowerChina (Tập đoàn Điện lực Trung Quốc)

 

葛洲坝水电站 / 摄影 李理

Nhà máy thủy điện Cát Châu Bá /Nhiếp ảnh: Lý Lý

 

金沙江溪洛渡水电站 / 摄影 柴峻峰

Nhà máy thủy điện Khê Lạc Độ trên sông Kim Sa / Nhiếp ảnh: Sài Tuấn Phong

三、 95.3%

火力和水力两种发电方式,贡献了全国发电量的86.7%,若加上风能和太阳能的出力,便能满足中国人95.3%的用电需求。

Hai hình thức phát điện là nhiệt điện và thủy điện đã đóng góp 86,7% tổng sản lượng điện của cả nước. Nếu cộng thêm sản lượng điện từ năng lượng gió và năng lượng mặt trời, con số này có thể đáp ứng tới 95,3% nhu cầu sử dụng điện của người dân Trung Quốc.

但风能和太阳能的利用却并不容易。

第一,在风力发电中,气流推动风机叶片持续旋转,带动发电机产生电力。风机叶片的尺寸和重量都十分巨大,单叶长度可达数十米,对运输和安装都是巨大的挑战。在太阳能光伏发电机中,单个太阳能电池的工作电压一般仅有0.40.5伏,工作电流十分微弱,只有将多个电池串联或并联为组件,再将多个组件排列为阵列,才能达到足够的发电功率。太阳能光热发电同样如此,只有利用足够多的镜面,才能汇聚足够多的热量,从而产生足够多的蒸汽来推动汽轮机旋转发电。

Tuy nhiên, việc khai thác năng lượng gió và năng lượng mặt trời không hề dễ dàng.

Thứ nhất, trong phát điện bằng năng lượng gió, luồng không khí làm cho các cánh quạt của tua-bin gió quay liên tục, từ đó kéo máy phát điện tạo ra điện năng. Kích thước và trọng lượng của cánh quạt gió đều rất lớn; chiều dài của một cánh quạt đơn lẻ có thể lên tới hàng chục mét, gây ra những thách thức không nhỏ đối với công tác vận chuyển và lắp đặt. Đối với hệ thống phát điện quang điện mặt trời, điện áp làm việc của một pin mặt trời đơn lẻ thông thường chỉ đạt khoảng 0,4–0,5 vôn, trong khi cường độ dòng điện tạo ra cũng rất nhỏ. Chỉ khi nhiều pin được mắc nối tiếp hoặc song song thành các mô-đun, rồi nhiều mô-đun tiếp tục được bố trí thành các dàn pin, mới có thể tạo ra công suất phát điện đủ lớn. Phát điện nhiệt điện mặt trời cũng tương tự như vậy. Chỉ khi sử dụng đủ số lượng gương phản xạ mới có thể tập trung được một lượng nhiệt đủ lớn, từ đó tạo ra đủ hơi nước để làm quay tua-bin hơi và phát điện.

所以,无论是风能还是太阳能,若要进行大规模发电,往往需要较大的占地面积和较高的建造成本。若在人口密集、土地紧张的东部地区,则采用渔光互补等综合利用的方式,以提高土地利用率。

Vì vậy, dù là năng lượng gió hay năng lượng mặt trời, nếu muốn phát điện với quy mô lớn thì thường phải cần đến diện tích đất tương đối rộng và chi phí xây dựng tương đối cao. Tại các khu vực miền Đông có mật độ dân số cao và quỹ đất hạn hẹp, người ta áp dụng các mô hình khai thác tổng hợp như “quang điện kết hợp nuôi trồng thủy sản” (mô hình “ngư – quang bổ trợ”) nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất.

第二,季节、气候、光照变化,比如短短一天内的昼夜交替、风云变幻,都会影响风能和太阳能发电的连续性和稳定性。为减小这些波动对电网的影响,人们将风、光、水、火等发电方式组合起来,相互调节,以保证较为稳定的电力输出;在负荷较小时,将多余的电力转化、储存起来,等到用电紧张时再行释放,维持供电稳定。

Thứ hai, sự thay đổi của mùa, khí hậu và điều kiện chiếu sáng, chẳng hạn như sự luân phiên ngày đêm hay những biến động của gió và mây chỉ trong một ngày ngắn ngủi, đều ảnh hưởng đến tính liên tục và ổn định của việc phát điện từ năng lượng gió và năng lượng mặt trời. Để giảm thiểu tác động của những biến động này đối với lưới điện, con người đã kết hợp các phương thức phát điện từ gió, mặt trời, nước và nhiên liệu hóa thạch, để chúng có thể hỗ trợ và điều tiết lẫn nhau, qua đó bảo đảm nguồn điện đầu ra tương đối ổn định. Khi phụ tải điện ở mức thấp, lượng điện dư thừa sẽ được chuyển đổi và lưu trữ; đến thời điểm nhu cầu sử dụng điện tăng cao, nguồn điện dự trữ này sẽ được giải phóng trở lại nhằm duy trì sự ổn định của hệ thống cung cấp điện.

 

甘肃敦煌100兆瓦熔盐塔式光热发电站 / 摄影 曾柏源

Nhà máy điện nhiệt mặt trời tháp muối nóng chảy 100 MW tại Đôn Hoàng, Cam Túc / Nhiếp ảnh: Tăng Bách Nguyên

 

内蒙古卓资县光伏与风力发电场航拍 / 摄影 焦潇翔

Ảnh chụp từ trên không trang trại điện mặt trời và điện gió tại huyện Trác Tư, Nội Mông Cổ / Nhiếpp ảnh: Tiêu Tiêu Tường

第三,和水能资源类似,我国的风能和太阳能资源分布同样不均衡。

Thứ ba, tương tự như tài nguyên thủy năng, nguồn tài nguyên gió và mặt trời của Trung Quốc cũng phân bố không đồng đều.

风能资源最丰富的是东部和东南沿海地区,全国风速超过7/秒的地区绝大多数集中于此。但由于地形限制,这片区域仅在海岸线和沿岸的山脉间形成狭窄的风能分布条带。相较之下,我国的三北地区不仅风能资源丰富,还能大面积连片分布。

Những khu vực có nguồn năng lượng gió dồi dào nhất nằm ở miền Đông và dải ven biển Đông Nam. Phần lớn các khu vực trên cả nước có tốc độ gió vượt quá 7 m/s đều tập trung tại đây. Tuy nhiên, do điều kiện địa hình, nguồn năng lượng gió ở khu vực này chủ yếu phân bố thành các dải hẹp dọc theo đường bờ biển và các dãy núi ven biển. Ngược lại, khu vực Tam Bắc (Đông Bắc, Hoa Bắc và Tây Bắc) không chỉ sở hữu nguồn năng lượng gió phong phú mà còn có ưu thế phân bố trên những vùng rộng lớn, liền mạch.

我国的太阳能资源丰富区位于西部内陆,包括青藏高原西部、新疆南部、宁夏、甘肃北部等地,这些地区的全年平均日照可达32003300小时。相较之下,太阳辐射最为薄弱的四川、贵州等省份,年均日照仅有约1100小时。

Các khu vực giàu tài nguyên năng lượng mặt trời của Trung Quốc chủ yếu nằm ở vùng nội địa phía Tây, bao gồm phía tây cao nguyên Thanh Tạng, miền nam Tân Cương, Ninh Hạ, phía bắc Cam Túc và một số địa phương khác. Số giờ nắng trung bình hằng năm ở các khu vực này có thể đạt 3.200–3.300 giờ. Trong khi đó, tại các tỉnh như Tứ Xuyên và Quý Châu – nơi có cường độ bức xạ mặt trời yếu nhất cả nước – số giờ nắng trung bình năm chỉ khoảng 1.100 giờ.

尽管我国西部地区风能和太阳能资源丰富,风电和太阳能发电规模庞大,但由于人口较少,经济活力较弱,电力资源供大于求。

Mặc dù miền Tây Trung Quốc sở hữu nguồn tài nguyên gió và mặt trời dồi dào, với quy mô phát triển điện gió và điện mặt trời rất lớn, nhưng do dân số tương đối ít và mức độ năng động kinh tế còn hạn chế, nên nguồn điện tại đây thường rơi vào tình trạng cung vượt cầu.

于是近年来,弃风、弃光等问题层出不穷。即便在2017年,整体情况已明显向好时,全国的弃风、弃光率仍为12%6%。在甘肃、新疆等地,弃风率甚至高达33%29%。一面是西北地区大量的新能源无处安放,一面是东部沿海嗷嗷待哺的用电需求。在这种形势下,远距离、跨区域的输电工程必须再次扛起重任。

Vì vậy, trong những năm gần đây, hiện tượng “cắt giảm điện gió” và “cắt giảm điện mặt trời” (tức không thể hòa lưới hoặc buộc phải giảm phát điện do không tiêu thụ hết) liên tục xuất hiện. Ngay cả trong năm 2017, khi tình hình chung đã có sự cải thiện đáng kể, tỷ lệ cắt giảm điện gió và điện mặt trời trên toàn quốc vẫn ở mức 12% và 6%. Tại các địa phương như Cam Túc và Tân Cương, tỷ lệ cắt giảm điện gió thậm chí lên tới 33% và 29%. Một bên là lượng lớn năng lượng tái tạo ở khu vực Tây Bắc không có nơi tiêu thụ; một bên là nhu cầu điện năng ngày càng cấp thiết tại các tỉnh ven biển miền Đông. Trong bối cảnh đó, các công trình truyền tải điện đường dài và liên vùng buộc phải một lần nữa gánh vác trọng trách lịch sử.

2014年和2017年,两条从西北地区向外辐射的±800千伏直流输电工程相继完工。第一条从新疆哈密出发,途经6个省份到达河南郑州,全程约2200千米,每年可将新疆地区的火电、风电等,共计约370亿千瓦时的电量,源源不断地送往中原大地。第二条则从甘肃酒泉出发,途经5个省份,直奔湖南湘潭,全程2383千米,在其每年送出的约400亿千瓦时的电力中,有超过40%是来自西北地区的风电和光电。

Năm 2014 và năm 2017, hai công trình truyền tải điện một chiều ±800 kV từ khu vực Tây Bắc ra các vùng khác của đất nước lần lượt được hoàn thành. Tuyến thứ nhất xuất phát từ thành phố Cáp Mật của Tân Cương, đi qua sáu tỉnh, khu tự trị trước khi đến Trịnh Châu, tỉnh Hà Nam, với chiều dài khoảng 2.200 km. Mỗi năm, tuyến này có thể liên tục truyền tải khoảng 37 tỷ kWh điện, bao gồm điện nhiệt và điện gió của khu vực Tân Cương, đến vùng Trung Nguyên. Tuyến thứ hai xuất phát từ thành phố Tửu Tuyền, tỉnh Cam Túc, đi qua năm tỉnh trước khi đến thành phố Tương Đàm, tỉnh Hồ Nam, với tổng chiều dài 2.383 km. Trong khoảng 40 tỷ kWh điện được truyền tải mỗi năm, có hơn 40% là điện gió và điện mặt trời được sản xuất tại khu vực Tây Bắc.

2018年,又一个大名鼎鼎的特高压输电线路工程开通,其电压等级高达±1100千伏,年均输电量高达660亿千瓦时,凭此一条输电线路便可外送相当于整个青海省全年的发电量,这便是准东皖南特高压输电工程,也称昌吉古泉特高压输电工程。

Đến năm 2018, một công trình truyền tải điện siêu cao áp nổi tiếng khác chính thức đi vào vận hành. Công trình này có cấp điện áp lên tới ±1.100 kV và sản lượng truyền tải điện bình quân hằng năm đạt 66 tỷ kWh. Chỉ với một tuyến đường dây duy nhất, lượng điện truyền tải ra ngoài đã tương đương với toàn bộ sản lượng điện hằng năm của tỉnh Thanh Hải. Đó chính là Công trình truyền tải điện siêu cao áp Chuẩn Đông – Nam An Huy, còn được gọi là Công trình truyền tải điện siêu cao áp Xương Cát – Cổ Tuyền.

该线路从新疆昌吉回族自治州出发,途经新疆、甘肃、宁夏、陕西、河南、安徽6省区,以6079座铁塔支撑起约3300千米的输电线路,沿途接连跨越秦岭、长江等天堑,最终抵达安徽宣城。无论是电压等级、传输容量,还是传输距离、技术难度,均为世界范围内的开山之作,是名副其实的超级工程。借由这条超级电力走廊,新疆地区520万千瓦的风电,以及250万千瓦的光伏发电,能够被打捆送往长三角地区。

Tuyến đường dây này khởi đầu từ Châu tự trị Xương Cát, Tân Cương, đi qua sáu tỉnh, khu tự trị gồm Tân Cương, Cam Túc, Ninh Hạ, Thiểm Tây, Hà Nam và An Huy. Được chống đỡ bởi 6.079 cột tháp truyền tải điện, tuyến đường dây dài khoảng 3.300 km liên tục chạy qua các chướng ngại tự nhiên như dãy Tần Lĩnh và sông Trường Giang trước khi kết thúc tại thành phố Tuyên Thành, tỉnh An Huy. Xét về cấp điện áp, công suất truyền tải, khoảng cách truyền tải cũng như độ phức tạp về mặt kỹ thuật, công trình này đều mang tính tiên phong trên phạm vi toàn cầu, xứng đáng được coi là một “siêu công trình” đúng nghĩa. Thông qua hành lang truyền tải điện khổng lồ này, 5,2 triệu kW điện gió và 2,5 triệu kW điện quang điện của Tân Cương có thể được truyền tải tập trung đến khu vực đồng bằng sông Trường Giang.

截至目前,我国仍是全球唯一能够建设±1100千伏特高压直流输电的国家,也是特高压输电领域的国际标准制定者之一。这对中国来说,虽是时代发展的必经之路,但也是当前能源格局下的无奈之举

Hiện nay, Trung Quốc vẫn là quốc gia duy nhất trên thế giới có khả năng xây dựng các công trình truyền tải điện một chiều siêu cao áp ±1.100 kV, đồng thời cũng là một trong những nước tham gia xây dựng các tiêu chuẩn quốc tế trong lĩnh vực truyền tải điện siêu cao áp. Đối với Trung Quốc, đây vừa là con đường tất yếu của quá trình phát triển trong thời đại mới, vừa là một lựa chọn mang tính bất đắc dĩ dưới cục diện năng lượng hiện nay.

让更多人用上更便宜、更清洁的电力,是无数电力工作者孜孜以求的目标。

Để ngày càng có nhiều người được sử dụng nguồn điện rẻ hơn và sạch hơn chính là mục tiêu mà biết bao thế hệ những người làm công tác điện lực vẫn không ngừng theo đuổi.

 

电力建设者攀爬在昌吉古泉± 1100千伏特高压输电线上 / 摄影 宋鹏涛

Người xây dựng điện lực đang leo trên đường dây truyền tải điện siêu cao áp ±1100 kV Xương Cát – Cổ Tuyền / Nhiếp ảnh: Tống Bằng Đào

四、100%

风、光、水、火四种方式,已生产了全国95.3%的电量,冲击100%的最后一棒是核电。

Bốn phương thức phát điện gồm nhiệt điện, thủy điện, điện gió và điện mặt trời hiện đã tạo ra 95,3% tổng sản lượng điện của cả nước. Chặng cuối cùng trên hành trình tiến tới mục tiêu 100% chính là điện hạt nhân.

和火力发电类似,核电燃料可以运输,能量产出稳定,基本不受气候、时间的影响。但和火力发电不同的是,装机容量100万千瓦的核电厂每年仅需核燃料2530吨,为相同容量火电厂耗煤量的十万分之一。这就意味着核电的燃料运输成本能大大降低,因此我国目前建设的核电站均远离原料产地,位于东部和东南沿海的用电负荷中心附近。

Tương tự nhiệt điện, nhiên liệu hạt nhân có thể được vận chuyển đến nơi phát điện, đồng thời sản lượng điện tạo ra tương đối ổn định và hầu như không chịu tác động của điều kiện khí hậu hay sự thay đổi của thời gian. Tuy nhiên, khác với nhiệt điện, một nhà máy điện hạt nhân có công suất lắp đặt 1 triệu kW mỗi năm chỉ cần tiêu thụ khoảng 25–30 tấn nhiên liệu hạt nhân, tương đương một phần một trăm nghìn lượng than mà một nhà máy nhiệt điện có cùng công suất phải sử dụng. Điều này đồng nghĩa với việc chi phí vận chuyển nhiên liệu của điện hạt nhân có thể được giảm xuống đáng kể. Vì vậy, các nhà máy điện hạt nhân hiện nay của Trung Quốc đều không được xây dựng gần nơi cung cấp nguyên liệu mà chủ yếu bố trí tại các trung tâm phụ tải điện ở khu vực miền Đông và ven biển Đông Nam.

不过,我国的核电起步较晚,直到1991年浙江秦山核电站开始发电,才有了第一座自行设计和建造的核电站。而当时世界上其他国家已有420余台核电机组投入运行,提供着全球16%的电力。

Tuy nhiên, ngành điện hạt nhân của Trung Quốc khởi đầu tương đối muộn. Mãi đến năm 1991, khi Nhà máy Điện hạt nhân Tần Sơn ở tỉnh Chiết Giang chính thức phát điện, Trung Quốc mới sở hữu nhà máy điện hạt nhân đầu tiên do nước này tự thiết kế và xây dựng. Trong khi đó, vào thời điểm ấy, trên thế giới đã có hơn 420 tổ máy điện hạt nhân đi vào vận hành, cung cấp khoảng 16% sản lượng điện toàn cầu.

随后的近30年间,在引进国外先进技术的基础上,我国核电技术逐渐自主化。2018年并网发电的广东台山核电站,是全国首次引进的第三代核电技术,也是目前世界上单机容量最大的核电机组。而到2021130日,华龙一号在福建福清核电站投入商业运行,这是我国首个拥有完全自主知识产权的第三代核电机组。

Trong gần ba mươi năm tiếp theo, trên cơ sở tiếp thu các công nghệ tiên tiến của nước ngoài, công nghệ điện hạt nhân của Trung Quốc từng bước đạt được sự tự chủ. Nhà máy Điện hạt nhân Đài Sơn ở Quảng Đông, được hòa lưới phát điện vào năm 2018, là dự án đầu tiên của Trung Quốc áp dụng công nghệ điện hạt nhân thế hệ thứ ba được du nhập từ nước ngoài, đồng thời sở hữu các tổ máy có công suất đơn máy lớn nhất thế giới vào thời điểm đó. Đến ngày 30 tháng 1 năm 2021, tổ máy “Hoa Long Một” (Hualong One) tại Nhà máy Điện hạt nhân Phúc Thanh, tỉnh Phúc Kiến chính thức đi vào vận hành thương mại. Đây là tổ máy điện hạt nhân thế hệ thứ ba đầu tiên của Trung Quốc sở hữu quyền sở hữu trí tuệ hoàn toàn độc lập.

2020年,我国核电装机容量达到5102.72万千瓦,产生了超过3662.43亿千瓦时的电量,相当于减少火力发电10474.19万吨标准煤的燃烧,减排27442.38万吨二氧化碳,为节能减排贡献了巨大力量。

Năm 2020, tổng công suất lắp đặt điện hạt nhân của Trung Quốc đạt 51,0272 triệu kW, tạo ra hơn 366,243 tỷ kWh điện năng. Lượng điện này tương đương với việc giảm đốt khoảng 1,047419 tỷ tấn than tiêu chuẩn trong phát điện nhiệt và cắt giảm khoảng 2,744238 tỷ tấn khí CO₂, qua đó đóng góp to lớn cho công cuộc tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải.

然而核电技术复杂,安全标准严格,因此核电厂的建造成本十分高昂,单位造价更是火电厂的数倍。历史上的核电站安全事故也令核电在争议中发展。但随着技术进步和社会认知的深入,甚至核聚变技术的突破,核电将在未来扮演更加关键的角色。

Tuy nhiên, công nghệ điện hạt nhân có độ phức tạp cao và đòi hỏi các tiêu chuẩn an toàn hết sức nghiêm ngặt. Vì vậy, chi phí xây dựng các nhà máy điện hạt nhân rất lớn, trong đó chi phí đầu tư trên một đơn vị công suất cao gấp nhiều lần so với các nhà máy nhiệt điện. Hơn nữa, những sự cố an toàn hạt nhân từng xảy ra trong lịch sử cũng khiến điện hạt nhân luôn phát triển trong bối cảnh tồn tại không ít tranh luận và lo ngại. Dẫu vậy, cùng với sự tiến bộ của khoa học – công nghệ, sự nâng cao nhận thức của xã hội và thậm chí là những đột phá trong công nghệ nhiệt hạch hạt nhân, điện hạt nhân được kỳ vọng sẽ đảm nhiệm vai trò ngày càng quan trọng trong cơ cấu năng lượng của tương lai.

 

位于福建福清的华龙一号核电机组 / 供图 中核集团

Tổ máy điện hạt nhân "Hoa Long số 1" tại Phúc Thanh, Phúc Kiến / Đơn vị cung cấp ảnh: Tập đoàn Năng lượng Hạt nhân Trung Quốc (CNNC)

华龙一号是我国具有完全自主知识产权的三代核电技术,是我国核电走向世界的国家名片。其每个机组每年可发电近100亿千瓦时,相当于减少标准煤消耗312万吨、减少二氧化碳排放816万吨,对助力碳达峰、实现碳中和目标具有重要意义。

“Hoa Long số Một” là công nghệ điện hạt nhân thế hệ thứ ba do Trung Quốc sở hữu hoàn toàn quyền sở hữu trí tuệ độc lập, đồng thời là “tấm danh thiếp quốc gia” đưa ngành điện hạt nhân Trung Quốc vươn ra thế giới. Mỗi tổ máy của dự án có thể phát điện gần 10 tỷ kWh mỗi năm, tương đương với việc giảm tiêu thụ khoảng 3,12 triệu tấn than tiêu chuẩn và cắt giảm khoảng 8,16 triệu tấn khí CO₂. Vì vậy, công nghệ này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc hỗ trợ Trung Quốc đạt mục tiêu đạt đỉnh phát thải carbon và trung hòa carbon.

回首新中国成立前夕,全国发电装机容量仅184.86万千瓦,历经38年的披荆斩棘,才终于突破1亿千瓦大关。而从1亿到2亿千瓦,再从2亿到3亿千瓦,分别用了8年和5年。到2009年,我国发电装机容量超越美国,跻身世界第一位,之后更以每年约1亿千瓦的速度突飞猛进,堪称世界电力史上的奇迹。

Nhìn lại thời điểm trước khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập, tổng công suất lắp đặt phát điện của cả nước chỉ đạt 1,8486 triệu kW. Sau 38 năm vượt qua muôn vàn khó khăn, Trung Quốc mới lần đầu tiên vượt qua cột mốc 100 triệu kW. Từ 100 triệu kW lên 200 triệu kW, rồi từ 200 triệu kW lên 300 triệu kW, Trung Quốc lần lượt chỉ mất 8 năm và 5 năm. Đến năm 2009, tổng công suất lắp đặt phát điện của Trung Quốc vượt qua Hoa Kỳ, vươn lên đứng đầu thế giới. Sau đó, quy mô công suất phát điện tiếp tục tăng trưởng với tốc độ khoảng 100 triệu kW mỗi năm, tạo nên một kỳ tích hiếm có trong lịch sử phát triển điện lực của thế giới.

不仅如此,截至2019年年底,全国220千伏以上输电线路共计长754785千米,足足能绕赤道18圈。其中24条特高压输电线路在东西南北间交织穿梭,堪称中国大地上又一工程奇迹。除华北和华东地区,全国各区域间均已实现跨区供电,输电线路翻越高山峡谷,跨过江河湖海。即便是高寒的世界屋脊,也能与全国各地连为一体。2019年,全国跨区、跨省送电量分别达到5405亿千瓦时和14440亿千瓦时,分别相当于当年全年发电量的7.4%19.7%,它们就通过这张大网奔向东西南北。

Không chỉ vậy, tính đến cuối năm 2019, tổng chiều dài các tuyến đường dây truyền tải điện từ 220 kV trở lên trên toàn quốc đã đạt 754.785 km, đủ để quấn quanh đường xích đạo 18 vòng. Trong số đó, 24 tuyến truyền tải điện siêu cao áp đan xen theo các hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, tiếp tục tạo nên một công trình kỳ tích của Trung Quốc. Ngoại trừ khu vực Hoa Bắc và Hoa Đông, tất cả các vùng còn lại của cả nước đều đã thực hiện được việc cung cấp điện liên vùng. Những tuyến đường dây truyền tải điện vượt qua núi cao, vực sâu, băng qua sông ngòi, hồ biển; ngay cả “Nóc nhà của thế giới” giá lạnh cũng được kết nối thành một thể thống nhất với mọi miền đất nước. Năm 2019, lượng điện truyền tải liên vùng và liên tỉnh trên phạm vi cả nước lần lượt đạt 540,5 tỷ kWh và 1.444 tỷ kWh, tương đương 7,4% và 19,7% tổng sản lượng điện phát ra trong năm, thông qua mạng lưới khổng lồ này mà dòng điện được truyền đi khắp bốn phương của đất nước.

今天的中国,14亿人实现全民通电,但人均用电量在世界仅居第63位,未来的路依然漫长。

Trung Quốc ngày nay đã thực hiện được mục tiêu toàn dân có điện sử dụng cho hơn 1,4 tỷ dân. Tuy nhiên, mức tiêu thụ điện bình quân đầu người của nước này chỉ đứng thứ 63 trên thế giới, cho thấy chặng đường phía trước vẫn còn rất dài.

但是,每当夏天人们打开空调和电扇,每当城市在黑夜中灯火通明,我们便不由得想起千里之外发电机的隆隆轰鸣,因为那就是这个跑步进入现代化的国家中,最波澜壮阔的声音。

Thế nhưng, mỗi khi hè đến, khi người dân bật điều hòa và quạt điện; mỗi khi các thành phố bừng sáng trong đêm với muôn vàn ánh đèn, chúng ta lại không khỏi nhớ tới tiếng máy phát điện đang rền vang nơi xa hàng nghìn kilômét. Bởi đó là những âm thanh vẻ vang nhất của một quốc gia đang sải bước trên con đường hiện đại hóa./.

 

 

编译 Biên dịch: Bùi Thị Tiệp (裴碧捷)

校对 Hiệu đính: 冯超 (Phùng Siêu)

排版 Sắp chữ: 穆锦怡 (Mục Cẩm Di)

源自:这里是中国2 - ① 电力 14亿人全民通电 - 星球研究所 - 微信读书

Nguồn tin: Đây là Trung Quốc 2 - ① Điện lực - 1,4 tỷ người cùng được thắp sáng - Viện Nghiên cứu Hành tinh - WeChat Reading

Chia sẻ:

Liên hệ chúng tôi

Trung tâm báo chí, Phòng Tuyên truyền Đảng ủy SISU

Tel : +86 (21) 3537 2378

Email : news@shisu.edu.cn

Address :550 phố Đại Liên Tây, Thượng Hải, Trung Quốc

Tin cũ