Liên hệ chúng tôi

Trung tâm báo chí, Phòng Tuyên truyền Đảng ủy SISU

Tel : +86 (21) 3537 2378

Email : news@shisu.edu.cn

Address :550 phố Đại Liên Tây, Thượng Hải, Trung Quốc

Tin cũ

南水北调 | Dự án Nam thủy Bắc điều (Dự án dẫn nước từ miền Nam về miền Bắc Trung Quốc)


20 July 2026 | By viadmin | SISU

南水北调

Dự án Nam thủy Bắc điều (Dự án dẫn nước từ miền Nam về miền Bắc Trung Quốc)

 

一、干渴的华北

I. Hoa Bắc khô cạn

在中国,若以人均水资源量计算,最为干渴的并非沙漠广布的西北地区,而是华北平原,特别是京津冀地区。这里养育着全国8%的人口,但人均水资源量却远远低于国际通行的人均500立方米的极度缺水红线。

Ở Trung Quốc, nếu xét theo lượng tài nguyên nước bình quân đầu người, khu vực “khô cạn” nhất không phải là vùng Tây Bắc với những sa mạc trải dài, mà chính là đồng bằng Hoa Bắc, đặc biệt là khu vực Bắc Kinh, Thiên Tân, Hà Bắc. Nơi đây là nơi sinh sống của 8% dân số cả nước, nhưng lượng tài nguyên nước bình quân đầu người lại thấp hơn rất nhiều so với ngưỡng 500 m³/người/năm, mức được quốc tế công nhận là ranh giới của tình trạng thiếu nước nghiêm trọng.

不仅如此,日益膨胀的人口,快速扩张的城镇,迅猛发展的工业让流经华北平原的黄河、淮河和海河,一度成为全国地表水质量最差的地区,最严重时几乎是有河皆枯、有水皆污。水量短缺,水体污染,可用的地表水所剩无几,于是人们不得不超采地下水,回用再生水,甚至挤占维系生态功能的水源,以填补庞大的用水缺口。到21世纪初,京津冀的地下水开采程度均已超过100%,一个面积超过9万平方千米,并且在不断扩大的地下水超采区,在华北平原之下迅速形成。

Không chỉ vậy, sự gia tăng dân số, quá trình đô thị hóa mở rộng nhanh chóng và sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp đã từng khiến các con sông chảy qua đồng bằng Hoa Bắc như Hoàng Hà, Hoài Hà và Hải Hà trở thành khu vực có chất lượng nước mặt tồi tệ nhất cả nước. Nghiêm trọng nhất, nơi đây gần như rơi vào tình trạng “có sông thì cạn, có nước thì ô nhiễm”. Nguồn nước khan hiếm, các thủy vực bị ô nhiễm, lượng nước mặt có thể khai thác ngày càng ít ỏi, buộc con người phải khai thác quá mức nguồn nước ngầm, tăng cường tái sử dụng nước tái sinh, thậm chí phải sử dụng cả những nguồn nước vốn dùng để duy trì các chức năng sinh thái nhằm bù đắp khoảng thiếu hụt nước khổng lồ. Đến đầu thế kỷ XXI, mức độ khai thác nước ngầm ở khu vực Bắc Kinh, Thiên Tân, Hà Bắc đều đã vượt 100%, một vùng khai thác quá mức nước ngầm với diện tích hơn 90 nghìn km², vẫn đang tiếp tục mở rộng, đã nhanh chóng hình thành dưới lòng đồng bằng Hoa Bắc.

在北京,供给城市生活用水的密云水库,仅在1999年到2003年的4年,库存水量就减少了3/4,全市超过70%的用水只能靠抽取地下水维持,这导致北京平原地区的地下水位以每年1米的速度持续下降。在济南,地下水的严重超采,令大量涌泉景观彻底消失,昔日的泉城岌岌可危。而在开采力度更大的河北省部分地区,预计不到20年后,便会面临无地下水可采的局面。

Ở Bắc Kinh, hồ chứa Mật Vân, nguồn cung cấp nước sinh hoạt quan trọng của thành phố, trong vòng bốn năm từ năm 1999 đến năm 2003, đã mất tới ba phần tư lượng nước dự trữ. Hơn 70% nhu cầu nước sinh hoạt của toàn thành phố chỉ có thể được duy trì nhờ khai thác nước ngầm. Hệ quả là mực nước ngầm tại khu vực đồng bằng Bắc Kinh liên tục hạ thấp với tốc độ khoảng 1 mét mỗi năm. Ở Tế Nam, tình trạng khai thác quá mức nước ngầm đã khiến hàng loạt cảnh quan suối phun nổi tiếng biến mất hoàn toàn, đẩy “thành phố của những con suối” xưa kia rơi vào tình thế hết sức nguy cấp. Trong khi đó, tại một số khu vực của tỉnh Hà Bắc, nơi cường độ khai thác nước ngầm còn lớn hơn, các dự báo cho thấy chỉ chưa đầy 20 năm nữa sẽ phải đối mặt với viễn cảnh không còn nước ngầm để khai thác.

尽管从2003年起,北京通过各项节水措施,使万元GDP用水量下降近七成,22%的用水被再生水替代,但地表水稀缺的现实和用水量增长的趋势依然难以改变,地下水位仍然在逐年下降。

Mặc dù từ năm 2003, Bắc Kinh đã thực hiện nhiều biện pháp tiết kiệm nước, giúp lượng nước tiêu thụ trên mỗi 10.000 nhân dân tệ GDP giảm gần 70%, 22% lượng nước sử dụng đã được thay thế bằng nước tái sinh, nhưng thực tế nguồn nước mặt khan hiếm và xu hướng gia tăng nhu cầu sử dụng nước vẫn khó có thể thay đổi. Mực nước ngầm vì thế vẫn tiếp tục suy giảm qua từng năm.

中国的南北大地本应拥有相同的发展机会,但水资源的极度短缺却成了限制华北地区发展的枷锁。干渴的华北大地迫切地需要新的水源。

Đáng lẽ, miền Nam và miền Bắc Trung Quốc đều có cơ hội phát triển như nhau. Thế nhưng, tình trạng khan hiếm nước nghiêm trọng đã trở thành một chiếc gông kìm hãm sự phát triển của khu vực Hoa Bắc. Vùng đất Hoa Bắc khô khát đang khẩn thiết cần đến một nguồn nước mới.

而千里之外的浩荡长江,多年平均径流量约9600亿立方米,是黄淮海三河总径流量的近7倍,长江之水能否北上?人们怀抱着一线希望。然而,要建设一个跨越1000多千米的调水工程,谈何容易?

Cách đó hàng nghìn kilômét, dòng Trường Giang cuồn cuộn có lượng dòng chảy trung bình nhiều năm khoảng 960 tỷ m³, gấp gần 7 lần tổng lượng dòng chảy của ba hệ thống sông Hoàng Hà, Hoài Hà và Hải Hà. Liệu nước sông Trường Giang có thể chảy ngược lên phía Bắc? Con người ôm ấp một tia hy vọng. Thế nhưng, xây dựng một công trình điều chuyển nước xuyên vùng, vượt qua quãng đường hơn 1.000 kilômét, đâu phải là điều dễ dàng.

   

注:1.中国人均水资源与世界对比,数据为2008—201710年平均值(数据源自:联合国粮农组织)。2.中国各省(区、市)人均水资源排名,数据为2010— 201910年平均值(数据源自:国家统计局)

Chú thích: 1. So sánh lượng tài nguyên nước bình quân đầu người của Trung Quốc với thế giới: số liệu là giá trị trung bình trong giai đoạn 10 năm từ 2008 đến 2017 (nguồn dữ liệu: Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc – FAO). 2. Xếp hạng lượng tài nguyên nước bình quân đầu người của các tỉnh (khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương) của Trung Quốc: số liệu là giá trị trung bình trong giai đoạn 10 năm từ 2010 đến 2019 (nguồn dữ liệu: Tổng cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc).

二、艰难的工程

II. Một công trình đầy gian khó

早在1952年,南水北调的设想就已诞生。但大到线路布局、规模设置,小到渡槽结构、管道材质,不计其数的论证长达半个世纪。直到2002年,工程的总体规划才正式出炉。

Ngay từ năm 1952, ý tưởng về Dự án Dẫn nước từ Nam về Bắc đã được đề xuất. Thế nhưng, từ những vấn đề lớn như bố trí tuyến, xác định quy mô, đến những chi tiết nhỏ như kết cấu cầu máng hay vật liệu đường ống, vô số cuộc nghiên cứu và luận chứng đã kéo dài suốt nửa thế kỷ. Mãi đến năm 2002, quy hoạch tổng thể của dự án mới chính thức được ban hành.

这意味着,在规划提出的数十年后,中国大地上将有东线、中线、西线三条大型水道纵贯南北,与东西流向的海河、黄河、淮河、长江形成四横三纵的巨型水网,最终调水规模将达448亿立方米,约为长江多年平均径流量的4.7%,却几乎是黄河多年平均径流量的80%

Theo quy hoạch này, trong những thập niên tiếp theo, trên lãnh thổ Trung Quốc sẽ hình thành ba tuyến chuyển nước quy mô lớn: tuyến Đông, tuyến Trung và tuyến Tây, chạy xuyên suốt từ Nam lên Bắc. Cùng với các hệ thống sông Hải Hà, Hoàng Hà, Hoài Hà và Trường Giang chảy theo hướng Đông – Tây, chúng sẽ hợp thành một mạng lưới thủy hệ khổng lồ với bố cục “bốn ngang, ba dọc”. Khi hoàn thành, quy mô điều chuyển nước hàng năm của toàn dự án sẽ đạt 44,8 tỷ m³, tương đương khoảng 4,7% lưu lượng dòng chảy trung bình nhiều năm của sông Trường Giang, nhưng lại gần bằng 80% lưu lượng dòng chảy trung bình nhiều năm của sông Hoàng Hà.

尽管那时国内外已建成近400项调水工程,但南水北调工程的规模之大、涉及面积之广、覆盖人口之多,均堪称史无前例。20131115日和20141212日,东、中线一期工程先后通水。南来之水第一次涌入北方大地之时,便成为世界水利史上的历史性时刻。

Mặc dù vào thời điểm đó, trong và ngoài nước đã xây dựng gần 400 công trình điều chuyển nước, nhưng xét về quy mô, phạm vi ảnh hưởng cũng như số lượng dân cư được hưởng lợi, dự án dẫn nước từ Nam về Bắc đều được xem là chưa từng có tiền lệ trong lịch sử. Ngày 15 tháng 11 năm 2013 và 12 tháng 12 năm 2014, giai đoạn I của tuyến Đông và tuyến Trung lần lượt chính thức dẫn nước vào vận hành. Khoảnh khắc những dòng nước từ phương Nam lần đầu tiên chảy về vùng đất phương Bắc đã trở thành một dấu mốc mang ý nghĩa lịch sử trong lịch sử thủy lợi thế giới.

这滚滚清流背后,又有着什么样的故事呢?

Đằng sau những dòng nước cuồn cuộn ấy là những câu chuyện như thế nào?

东线:水往高处流?

Tuyến Đông: Nước chảy ngược lên cao?

南水北调东线工程,从江苏扬州一路北上,上跨淮河,下穿黄河,最终将长江之水送到山东半岛和天津城区。沿途包括京杭大运河在内,有数条南北向的河道可作为江水北上的现成通道,洪泽湖、骆马湖、南四湖、东平湖等数个南北串联的湖泊可作为天然的调蓄水库,加之江苏省的江水北调工程基础,东线工程的建设有着地利的优势,只待水到渠成。

Dự án tuyến Đông của công trình Dẫn nước từ Nam về Bắc bắt đầu từ thành phố Dương Châu, tỉnh Giang Tô, đi lên phía Bắc, vượt qua sông Hoài, xuyên qua sông Hoàng Hà và cuối cùng đưa nước sông Trường Giang đến bán đảo Sơn Đông và khu vực nội đô Thiên Tân. Dọc tuyến có nhiều con sông chảy theo hướng Nam – Bắc, trong đó có cả Đại Vận Hà Bắc Kinh – Hàng Châu, có thể tận dụng làm những tuyến dẫn nước tự nhiên cho dòng nước Trường Giang đi lên phía Bắc. Các hồ lớn như Hồng Trạch Hồ, Lạc Mã Hồ, Nam Tứ Hồ và Đông Bình Hồ, nối tiếp nhau theo trục Nam – Bắc đóng vai trò như những hồ điều tiết và tích trữ nước tự nhiên. Cộng thêm tỉnh Giang Tô vốn có nền tảng từ các công trình chuyển nước từ sông Trường Giang lên phía Bắc trước đó. Tất cả những điều kiện này tạo cho tuyến Đông nhiều lợi thế về mặt tự nhiên, tưởng chừng chỉ còn chờ ngày nước chảy thành công.

然而事情却没有这么简单,从调水起点到黄河南岸,地面高程升高近40米。这意味着,南水想要北上,必须实现水往高处流,直至水流越过最大的高程点,才可顺流而下,抵达天津,或沿引黄济青工程,奔向山东半岛。

Thế nhưng, thực tế lại không hề đơn giản như vậy. Từ điểm khởi đầu của công trình đến bờ nam sông Hoàng Hà, độ cao so với mực nước biển tăng lên gần 40 mét. Điều đó có nghĩa là để nước từ phương Nam có thể chảy lên phía Bắc, phải thực hiện được điều tưởng như đi ngược quy luật tự nhiên: “để nước chảy lên chỗ cao”. Chỉ khi dòng nước vượt qua điểm cao nhất, nó mới có thể thuận dòng chảy xuống, dẫn nước đến Thiên Tân hoặc theo tuyến dẫn nước từ Hoàng Hà sang Thanh Đảo để tiến tới bán đảo Sơn Đông.

于是,仅东线一期工程沿线,便建有34处站点、160台水泵,共计13级泵站。这个世界最大的泵站群,从扬州江都水利枢纽开始,将长江之水逐级提升近40米,一路送至黄河南岸。

Vì vậy, chỉ riêng giai đoạn I của tuyến Đông đã xây dựng 34 trạm, lắp đặt 160 máy bơm, hợp thành 13 cấp trạm bơm. Đây là cụm trạm bơm lớn nhất thế giới. Bắt đầu từ công trình đầu mối thủy lợi Giang Đô ở Dương Châu, hệ thống này từng bước nâng nước sông Trường Giang lên gần 40 mét và đưa dòng nước đi suốt tới bờ nam sông Hoàng Hà.

为了降低泵站群的能耗,沿途1/3的水泵均使用我国技术人员耗时3年自行研制的灯泡贯流泵。这种装置拥有平直的流道,水流不需转弯便可直接通过。与传统的立式轴流泵相比,灯泡贯流泵的电能转化率可从65%提高至81%,大大提高了运行能效。

Để giảm mức tiêu hao năng lượng của hệ thống trạm bơm, khoảng 1/3 số máy bơm trên tuyến sử dụng máy bơm hướng trục kiểu dòng chảy xuyên tâm dạng bóng đèn do các kỹ sư Trung Quốc tự nghiên cứu và chế tạo trong suốt ba năm. Thiết bị này có dòng chảy thẳng, nước không cần đổi hướng mà có thể đi trực tiếp qua máy bơm. So với máy bơm hướng trục đứng truyền thống, hiệu suất chuyển đổi điện năng của loại máy bơm này tăng từ 65% lên 81%, qua đó nâng cao đáng kể hiệu quả vận hành.

经由这些泵站,东线一期工程的年调水能力可达88亿立方米,相当于每年为沿线的江苏、安徽、山东各省供给600多个西湖的水量。

Nhờ hệ thống trạm bơm này, giai đoạn I của tuyến Đông đạt năng lực điều chuyển 8,8 tỷ m³ nước mỗi năm, tương đương với việc mỗi năm cung cấp cho các tỉnh Giang Tô, An Huy và Sơn Đông lượng nước bằng hơn 600 cái hồ Tây.

相较之下,南水北调中线工程则显得节能多了,其干线上仅建有一座泵站,却依然完成了1432千米的超长距离调水,这是如何实现的呢?

Trong khi đó, tuyến Trung của Dự án Dẫn nước từ Nam về Bắc lại có vẻ “tiết kiệm năng lượng” hơn rất nhiều. Trên toàn tuyến chính chỉ có một trạm bơm, nhưng vẫn thực hiện được việc dẫn nước trên quãng đường siêu dài 1.432 km. Vậy điều này được thực hiện bằng cách nào?

 

 

扬州江都水利枢纽 / 摄影 杨奎

Trạm thủy lợi Giang Đô, Dương Châu / Nhiếp ảnh: Dương Khôi

中线:一渠清水向北流

Tuyến Trung: Một dòng nước trong chảy về phương Bắc

20059月,在湖北省汉江与丹江交汇口下游的800米处,一声爆破响彻群山之间,丹江口大坝的表层开始被拆除。不久之后,人们在其上方浇筑新的混凝土,让大坝加高14.6米,水库面积增加至1022平方千米,几乎与三峡库区的水面面积相当。

Tháng 9 năm 2005, tại khu vực cách hạ lưu nơi hợp lưu giữa sông Hán và sông Đan ở tỉnh Hồ Bắc khoảng 800 mét, một tiếng nổ vang khắp núi rừng. Lớp bề mặt của đập Đan Giang Khẩu bắt đầu được tháo dỡ. Không lâu sau, người ta đổ thêm một lớp bê tông mới lên phía trên, nâng chiều cao của con đập thêm 14,6 mét, đưa diện tích mặt hồ chứa lên 1.022 km², gần tương đương với diện tích mặt nước của hồ chứa Tam Hiệp.

然而,在一座已服役近40年的老坝上,重新浇筑一座新坝并非易事。倘若新老混凝土因温度变化产生不均匀的热胀冷缩,将会令坝体产生裂缝,后果不堪设想。因此,除了严格控制混凝土的浇筑温度,人们还在大坝堰体的老混凝土上切割出一道道键槽,然后植入一根根钢筋,用以加强新老混凝土间的咬合和锚固。同时,人们在大坝顶部向20个垂直伫立的闸墩中植入1164根钢筋,令闸墩更加坚固。这一工程,历时近8年才得以完成。

Tuy nhiên, việc xây dựng một con đập mới trên nền một con đập cũ đã vận hành gần 40 năm không hề dễ dàng. Nếu khối bê tông mới và cũ giãn nở hoặc co ngót không đồng đều do biến đổi nhiệt độ, thân đập có thể xuất hiện các vết nứt, gây ra những hậu quả khôn lường. Vì vậy, ngoài việc kiểm soát nghiêm ngặt nhiệt độ đổ bê tông, các kỹ sư còn cắt những rãnh khóa trên lớp bê tông cũ của thân đập, rồi cấy từng thanh cốt thép vào đó nhằm tăng cường khả năng liên kết và neo giữ giữa khối bê tông mới và cũ. Đồng thời, tại phần đỉnh đập, người ta cấy thêm 1.164 thanh thép vào 20 trụ cửa van đứng thẳng, giúp chúng trở nên vững chắc hơn. Toàn bộ công trình này phải mất gần 8 năm mới hoàn thành.

经过升级改造的丹江口大坝变得更高、更厚,不仅库容量能满足调水需求,水位高程也达到了170米,比北京高100余米。这就意味着,来自丹江口水库的汩汩清水,不再需要泵站逐级提升,便能一路自流到达北京,或是经位于河北保定的西黑山分水口,转而向东,流入天津。

Sau khi được nâng cấp và cải tạo, đập Đan Giang Khẩu trở nên cao hơn, dày hơn. Không chỉ dung tích hồ chứa đáp ứng được nhu cầu điều chuyển nước, mà cao trình mực nước cũng đạt tới 170 mét, cao hơn Bắc Kinh trên 100 mét. Điều đó có nghĩa là dòng nước trong lành từ hồ chứa Đan Giang Khẩu không cần phải nâng từng cấp bằng hệ thống trạm bơm, mà có thể tự chảy suốt hành trình đến Bắc Kinh hoặc thông qua điểm phân lưu Tây Hắc Sơn ở thành phố Bảo Định, tỉnh Hà Bắc, chuyển hướng sang phía Đông để chảy vào Thiên Tân.

更幸运的是,分隔长江和淮河流域的秦岭,在河南方城县附近的连绵群山中留出一道缝隙,人称方城垭口。此处两侧山地的高程在200米以上,但垭口处却仅有145米,中线工程的水渠可经此缝隙穿行而过,避免挖掘数千米的穿山隧洞。

May mắn hơn nữa, dãy Tần Lĩnh, ranh giới tự nhiên giữa lưu vực Trường Giang và lưu vực sông Hoài, lại để ngỏ một “khe hở” giữa những dãy núi trùng điệp gần huyện Phương Thành, tỉnh Hà Nam, được gọi là đèo Phương Thành. Trong khi độ cao của núi ở hai bên đều vượt quá 200 mét, thì khu vực đèo chỉ cao 145 mét. Nhờ vậy, tuyến kênh của công trình tuyến Trung có thể đi xuyên qua “khe hở” này, tránh phải đào những đường hầm xuyên núi dài hàng nghìn mét.

然而鱼和熊掌不可兼得,虽然中线工程不需要大量建设泵站,但由于没有任何现成河道可以利用,1432千米的水道必须全部从零新建,漫长的修建过程注定困难重重。

Tuy nhiên, không thể có được mọi điều thuận lợi cùng lúc. Mặc dù tuyến Trung không cần xây dựng nhiều trạm bơm, nhưng do không có dòng sông tự nhiên nào có thể tận dụng, toàn bộ tuyến dẫn nước dài 1.432 km buộc phải được xây dựng hoàn toàn mới từ con số không. Hành trình kiến thiết vì thế được định sẵn là vô cùng gian nan.

中线工程沿途需穿越686条大小河流,为保证输水水质,避免洪涝和污染的影响,一座座庞大的水上立交横空出世。在其中的27座大型梁式渡槽上,南来之水源源不断凌空而过,如同一条蜿蜒北去的天河”​

Trên suốt tuyến, công trình phải vượt qua 686 con sông lớn nhỏ. Để bảo đảm chất lượng nguồn nước và tránh tác động của lũ lụt cũng như ô nhiễm, các “nút giao thông thủy trên không” khổng lồ đã lần lượt xuất hiện. Trên 27 cầu máng quy mô lớn, dòng nước từ phương Nam không ngừng chảy lơ lửng giữa không trung, tựa như một “dải Ngân Hà” uốn lượn hướng về phương Bắc.

河南省境内,在全长达11.9千米的沙河渡槽中,巨大的U形槽段重达1200吨,每次吊装都相当于一次性起吊约1000辆轿车。

Tại tỉnh Hà Nam, trên cầu máng sông Sa có tổng chiều dài 11,9 km, mỗi đoạn máng hình chữ U khổng lồ nặng tới 1.200 tấn; mỗi lần cẩu lắp tương đương với việc nâng cùng lúc khoảng 1.000 chiếc ô tô con.

黄河北岸,巨大的圆筒形竖井深入地下,其内径可达16.4米,井深50.5米,几乎可以容纳一座15层的高楼。负责掘进隧道的大型盾构机从这里出发,在深厚的砂土中前行超过4000米,才能穿越黄河天堑。

Bờ Bắc sông Hoàng Hà, những giếng đứng hình trụ khổng lồ ăn sâu xuống lòng đất. Mỗi giếng có đường kính trong lên tới 16,4 mét, sâu 50,5 mét, gần như có thể chứa vừa một tòa nhà cao 15 tầng. Từ đây, những máy khiên đào hầm khổng lồ bắt đầu hành trình của mình, phải tiến hơn 4.000 mét qua lớp cát đất dày đặc mới có thể vượt qua thiên hào Hoàng Hà.

然而规模庞大的穿黄隧洞,在建设中并非一帆风顺。盾构机的刀盘日夜不休地旋转,被粉碎的砂砾土石随泥浆排出,但由于砂土中石英含量较高,致使盾构机的刀片产生严重破损。工程人员只能依靠人力,前后进出近400次,才能在充斥着泥水的盾构机前端完成刀盘的修复和加固。最终,在大河之下穿行500多个日夜后,巨大的盾构机在河道对岸重见天日。而河床下平均30米处,有两条内径达7米的巨大隧洞出现在世人眼前。由此,南来之水得以跨越黄河天堑,继续北上。

Thế nhưng, công trình xuyên Hoàng Hà đồ sộ ấy không hề thuận buồm xuôi gió. Lưỡi cắt của máy đào hầm quay không ngừng nghỉ, nghiền nát sỏi đá và đất cát, cùng dòng bùn đất đưa ra ngoài. Nhưng do hàm lượng thạch anh trong cát quá cao, các lưỡi cắt của máy bị mài mòn nghiêm trọng. Các kỹ sư chỉ có thể dựa vào sức người, ra vào gần 400 lần, mới hoàn thành việc sửa chữa và gia cố lưỡi cắt ở phần đầu máy ngập trong bùn nước. Cuối cùng, sau hơn 500 ngày đêm xuyên qua lòng đại hà, cỗ máy đào hầm khổng lồ đã nhìn thấy ánh sáng ở bờ bên kia. Dưới đáy sông, ở độ sâu trung bình 30 mét, hai đường hầm khổng lồ có đường kính trong 7 mét hiện ra trước mắt thế gian. Nhờ đó, dòng nước từ phương Nam có thể vượt qua thiên hào Hoàng Hà và tiếp tục tiến về phương Bắc.

水道上天入地固然艰难,但在中线工程中约1/3的渠段内,即便是平地修渠,也面临着膨胀土的考验。这是一种吸水膨胀、失水收缩的土壤,极易造成渠道塌陷。在当时,全国上下尚无类似的工程先例,这意味着连设计施工标准,都必须从零开始制定。

Việc đưa dòng nước “lên trời, xuống đất” vốn đã vô cùng khó khăn, nhưng khoảng 1/3 chiều dài tuyến kênh của công trình tuyến Trung, ngay cả việc đào kênh trên vùng đất bằng cũng phải đối mặt với thách thức đất trương nở. Đây là loại đất nở ra khi hút nước và co lại khi mất nước, rất dễ gây sụt lún kênh dẫn. Vào thời điểm đó, cả nước chưa từng có tiền lệ xây dựng công trình tương tự, đồng nghĩa với việc ngay cả các tiêu chuẩn thiết kế và thi công cũng phải được xây dựng từ con số không.

中线工程水道穿山越岭,穿越城镇,与31条水渠、51条铁路和1238条公路相互交错。全程有27座渡槽、102座倒虹吸、17座暗渠、12座隧洞、1座泵站、476座排水建筑物、303座控制建筑物,将这条千里水脉逐一串联。

Trên hành trình ấy, tuyến kênh của công trình vượt núi, băng đồi, xuyên qua các đô thị và giao cắt với 31 tuyến kênh dẫn, 51 tuyến đường sắt và 1.238 tuyến đường bộ. Toàn tuyến có 27 cầu máng, 102 công trình xi phông ngược, 17 cống ngầm, 12 đường hầm, 1 trạm bơm, 476 công trình thoát nước và 303 công trình điều tiết, kết nối với nhau thành một mạch nước thiên lý.

然而,无论是东线工程庞大的泵站,还是中线工程巨大的水渠,都只是整个南水北调工程的冰山一角。水质如何保障?污染如何治理?移民如何安置?文物如何保护?造成的生态问题又该如何补偿?种种问题摆在人们眼前,让这项本已困难重重的工程愈发举步维艰。

Thế nhưng, dù là cụm trạm bơm đồ sộ của tuyến Đông hay hệ thống kênh dẫn khổng lồ của tuyến Trung, tất cả vẫn chỉ là phần nổi của tảng băng trong đại công trình Dẫn nước từ Nam về Bắc. Làm thế nào để bảo đảm chất lượng nước? Làm thế nào để kiểm soát ô nhiễm? Bố trí tái định cư cho người dân ra sao? Bảo vệ di sản văn hóa như thế nào? Và phải bù đắp những tác động sinh thái phát sinh bằng cách nào? Hàng loạt câu hỏi đặt ra trước mắt đã khiến công trình vốn đã vô cùng gian nan này lại càng trở nên khó khăn, nặng nề hơn bội phần.

 

南水北调中线穿过吴庄隧洞/供图 南水北调中线干线工程建设管理局宣传中心

Trục trung tuyến Nam Thủy Bắc Điều đi qua đường hầm Ngô Trang / Đơn vị cung cấp ảnh: Trung tâm Tuyên truyền, Cục Quản lý Xây dựng Tuyến chính Trục trung tuyến Nam Thủy Bắc Điều

吴庄隧洞位于河北满城,这里处于太行山东麓的低山丘陵地带,南来之水必须穿山而过,才能抵达终点。

Đường hầm Ngô Trang nằm tại huyện Mãn Thành, tỉnh Hà Bắc, thuộc khu vực đồi núi thấp ở sườn phía đông dãy Thái Hành Sơn, khiến dòng nước từ phương Nam buộc phải xuyên qua núi non, mới có thể tiếp tục tiến về điểm cuối của hành trình./.

三、幕后的故事

III. Những câu chuyện phía sau công trình

2002年,南水北调工程终于正式开工,但东线工程沿线的城市却显得忧心忡忡。毕竟在当时的工程沿线,黄河以南的36个水质断面中,仅有1个达到地表水类标准,有的断面污染物甚至超标百余倍,完全无法作为饮用水源。这意味着,东线工程必须在10年内达到全线类及以上水质,才能达到通水要求,一项庞大的污染治理工程的实施刻不容缓。

Năm 2002, Dự án Dẫn nước từ Nam về Bắc cuối cùng cũng chính thức khởi công. Tuy nhiên, các thành phố dọc tuyến Đông lại không khỏi lo lắng. Bởi lẽ, vào thời điểm đó, trong số 36 mặt cắt quan trắc chất lượng nước ở khu vực phía Nam sông Hoàng Hà trên tuyến công trình, chỉ có 1 mặt cắt đạt Tiêu chuẩn chất lượng nước mặt loại III. Tại một số mặt cắt, hàm lượng chất ô nhiễm thậm chí vượt tiêu chuẩn cho phép hàng 100 lần, hoàn toàn không thể sử dụng làm nguồn nước sinh hoạt. Điều này đồng nghĩa với việc trong vòng 10 năm, toàn tuyến Đông cần phải đạt tiêu chuẩn chất lượng nước từ loại III trở lên mới đủ điều kiện dẫn nước, một chiến dịch xử lý ô nhiễm quy mô lớn phải được triển khai khẩn cấp.

于是在这10年间,山东有超过700家造纸厂,江苏有超过800家化工企业因排放不达标纷纷被关停。水面上,山东和江苏两省约4000艘水泥船、24000艘挂桨机被淘汰或拆改。河岸边,仅江苏一省沿线就建成17座船舶垃圾收集站和43座污水(油)回收站。

Trong suốt mười năm ấy, tại tỉnh Sơn Đông, hơn 700 nhà máy giấy, còn tại tỉnh Giang Tô, hơn 800 doanh nghiệp hóa chất đã lần lượt bị đóng cửa do không đáp ứng tiêu chuẩn xả thải. Trên mặt nước, khoảng 4.000 tàu chở xi măng và 24.000 thuyền gắn động cơ chân vịt của hai tỉnh Sơn Đông và Giang Tô đã bị loại bỏ, tháo dỡ hoặc cải tạo. Dọc các tuyến sông, riêng tỉnh Giang Tô đã xây dựng 17 trạm thu gom rác thải tàu thuyền và 43 trạm thu hồi nước thải, dầu thải.

2016年,江苏省内沿线共9650千米的污水收集管网,以及接近全省1/ 5的污水处理能力,时刻镇守着沿线的排放关卡。此外,还有大面积的湖泊湿地等426项治理工程,如铠甲一般装备1000多千米长的东线工程调水线路之上。在2012年东线通水前夕,沿线主要污染物入河总量减少85%,全线36个监测水质断面终于全部达标。

Đến năm 2016, tỉnh Giang Tô đã xây dựng tổng cộng 9.650 km mạng lưới thu gom nước thải dọc tuyến, cùng với năng lực xử lý nước thải chiếm gần 1/5 tổng công suất xử lý của toàn tỉnh, luôn duy trì trạng thái kiểm soát nghiêm ngặt đối với các nguồn xả thải trên toàn tuyến. Bên cạnh đó, còn có 426 công trình xử lý và cải tạo môi trường, bao gồm các khu đất ngập nước và hồ nước lớn, được triển khai dọc theo tuyến điều chuyển nước dài hơn 1.000 km của tuyến Đông giống như một lớp “áo giáp” bảo vệ công trình. Trước thời điểm tuyến Đông chính thức dẫn nước vào năm 2012, tổng lượng các chất ô nhiễm chính đổ vào sông trên toàn tuyến đã giảm 85%, toàn bộ 36 mặt cắt quan trắc chất lượng nước cuối cùng đều đạt tiêu chuẩn.

而在中线工程中,其干渠水道全程封闭,两侧还划出严格的水源保护区,基本杜绝了外界污染带来的影响,堪称一条清水走廊”​。但人们真的可以高枕无忧了吗?

Trong khi đó, đối với tuyến Trung, toàn bộ kênh dẫn chính đều là hệ thống kín; hai bên tuyến còn được quy hoạch thành những khu vực bảo vệ nguồn nước, về cơ bản đã loại trừ tác động ô nhiễm từ bên ngoài. Vì thế, công trình này được ví như một “hành lang nước sạch”. Nhưng liệu con người có thể hoàn toàn yên tâm?

在中线水源地丹江口水库,20世纪80年代时,水质达到类的时间约有2/3,到了21世纪初却仅有1/3。如何维持水源地的水质,成为无法被忽略的问题。然而,丹江口水库的上游流域涉及陕西、湖北、河南三省的8市及其下辖的43个县和600多个乡镇,若要溯流清源,将是一项浩大工程。

Tại hồ chứa Đan Giang Khẩu, vào những năm 1980, nguồn nước của tuyến Trung, khoảng 2/3 thời gian chất lượng nước đạt loại I. Thế nhưng đến đầu thế kỷ XXI, tỷ lệ này chỉ còn khoảng một phần ba. Làm thế nào để duy trì chất lượng nguồn nước đã trở thành một vấn đề không thể xem nhẹ. Tuy nhiên, lưu vực thượng nguồn của hồ chứa Đan Giang Khẩu trải rộng trên địa bàn 8 thành phố thuộc ba tỉnh Thiểm Tây, Hồ Bắc và Hà Nam, cùng 43 huyện và hơn 600 thị trấn, làng xã trực thuộc. Muốn xử lý tận gốc nguồn ô nhiễm từ thượng nguồn, sẽ phải đối mặt với một nhiệm vụ vô cùng lớn lao.

但人们别无选择。于是在上游流域,采矿冶炼、黄姜生产、汽车电镀等高污染工厂相继被关停。截至2014年,在上游流域,城市污水处理厂由5座增至174座,垃圾处理场由1座增至99座,1.7万平方千米的水土流失土地得到治理。中线工程通水至今,输水水质达到类的断面比例从30%增长至80%,历时超过8年的水源保护工程,开始逐渐显现效果。

Nhưng con người không còn lựa chọn nào khác. Vì vậy, trên toàn lưu vực thượng nguồn, các cơ sở gây ô nhiễm nặng như khai khoáng và luyện kim, chế biến hoàng khương, mạ điện ô tô cùng nhiều nhà máy khác đã lần lượt bị đóng cửa. Tính đến năm 2014, số lượng nhà máy xử lý nước thải đô thị tại khu vực thượng nguồn đã tăng từ 5 lên 174, số bãi xử lý rác thải tăng từ 1 lên 99, và 17.000 km² đất bị xói mòn, thoái hóa đã được cải tạo và phục hồi. Kể từ khi tuyến Trung chính thức dẫn nước đến nay, tỷ lệ các mặt cắt có chất lượng nước đạt loại I trên tuyến dẫn nước đã tăng từ 30% lên 80%. Sau hơn 8 năm triển khai, công tác bảo vệ nguồn nước cuối cùng cũng bắt đầu phát huy hiệu quả rõ rệt.

 

丹江口水库库区 / 摄影 徐欣

Hồ chứa Đan Giang Khẩu / Nhiếp Ảnh: Từ Hân

丹江口水库控制流域面积超过9万平方千米,占汉江流域集水面积的60%。为了保障水质,人们必须严格控制水库上游的污染排放。

Hồ chứa Đan Giang Khẩu kiểm soát một lưu vực có diện tích hơn 90.000 km², chiếm khoảng 60% diện tích lưu vực thu nước của sông Hán. Để bảo đảm chất lượng nguồn nước, con người buộc phải kiểm soát nghiêm ngặt mọi hoạt động xả thải gây ô nhiễm ở khu vực thượng nguồn của hồ chứa.

当水库水位成功抬高13米时,库区周边超过300平方千米的土地将被淹没在茫茫碧波之下。这意味着曾经生活在周边40个乡镇、441个村庄的超过34万人,不得不搬离原本的家园。此外,工程干线沿途占用土地,又需搬迁安置约9万人。所以,中线工程也是一项浩大而艰巨的移民安置工程。

Khi mực nước hồ chứa được nâng lên thêm 13 mét, hơn 300 km² đất đai xung quanh khu vực hồ sẽ bị nhấn chìm dưới dòng nước mênh mông. Điều đó đồng nghĩa với việc hơn 340.000 người, vốn sinh sống tại 40 thị trấn và 441 thôn làng quanh hồ, buộc phải rời bỏ quê hương của mình. Bên cạnh đó, do tuyến chính của công trình chiếm dụng đất dọc đường đi, khoảng 90.000 người cần được di dời và tái định cư. Vì vậy, công trình tuyến Trung cũng là một dự án tái định cư quy mô lớn, hết sức phức tạp và gian nan.

于是,在预计被淹没的迁出地,每一村、每一户、每一间房、每一块地、每一口水井、每一片果树,都开始被调查、统计和公示。离开原有土地的人们,将按照这些土地被征收前三年平均产值的16倍,获得征地补偿款和移民安置费。而在迁入地,移民新村的建设同样紧锣密鼓。由于每家每户情况不同,政府设计了十余套不同户型的住房,供移民选择。在新村社区中,交通、供电、供水、排水、学校、环保等公共基础设施一应俱全。

Tại những khu vực dự kiến bị ngập, từng thôn xóm, từng hộ gia đình, từng căn nhà, từng mảnh ruộng, từng giếng nước, từng vườn cây ăn quả đều được điều tra, thống kê và công khai thông tin. Những người phải rời bỏ nơi ở cũ sẽ nhận được tiền bồi thường thu hồi đất và chi phí tái định cư, được tính bằng 16 lần giá trị sản lượng bình quân của ba năm trước khi đất bị thu hồi. Trong khi đó, tại các khu tái định cư, công tác xây dựng những ngôi làng mới cũng được triển khai khẩn trương. Do hoàn cảnh của mỗi gia đình khác nhau, chính quyền đã thiết kế hơn mười loại hình nhà ở để người dân lựa chọn. Trong các cộng đồng dân cư mới, hệ thống giao thông, điện, cấp nước, thoát nước, trường học và các hạng mục bảo vệ môi trường đều được xây dựng đầy đủ.

大多数人的居住条件,从人均20平方米的土木房、土坯房,上升为人均24~34平方米的砖混楼房。此外,为了让移民有田可耕、有地可种,迁入地必须在有限的耕地中,挤出一部分分配给移民。

Điều kiện nhà ở của phần lớn người dân được cải thiện đáng kể, từ những ngôi nhà gỗ, nhà đất với diện tích bình quân khoảng 20 m²/người, chuyển sang những ngôi nhà xây gạch bê tông có diện tích 24–34 m²/người. Ngoài ra, để bảo đảm người dân tái định cư vẫn có ruộng để canh tác và đất để sản xuất, các địa phương tiếp nhận di dân buộc phải dành một phần diện tích trong quỹ đất nông nghiệp vốn đã hạn chế để phân bổ cho họ.

至此,万事俱备,超过34万移民搭乘浩荡的车队,挥别祖祖辈辈生活的故土,到达一片陌生的土地,重新建设家园。丹江口水库的移民安置,要求在2年内基本完成,搬迁工作强度之大在世界水利移民史上前所未有。

Mọi công tác chuẩn bị hoàn tất, hơn 340.000 người di dân lên đường trong những đoàn xe nối dài, từ biệt mảnh đất quê hương mà cha ông họ đã gắn bó qua bao thế hệ để đến một vùng đất xa lạ và bắt đầu dựng xây cuộc sống mới. Theo yêu cầu, công tác tái định cư tại hồ chứa Đan Giang Khẩu phải cơ bản hoàn thành trong vòng hai năm. Cường độ và quy mô của cuộc di dân này được xem là chưa từng có trong lịch sử tái định cư phục vụ các công trình thủy lợi trên thế giới.

但艰难的并不只是工程本身,数十万移民告别的也不只是房屋和田地,而是他们最熟悉的土地,是他们赖以为生的生活方式,也是他们世世代代的生活记忆。因此,若要他们真正融入新的家园,需要的不仅仅是政府的支持和补偿,还需要当地人的一视同仁、自己的汗水和勇气,以及一段漫长的时间。

Nhưng điều khó khăn không chỉ nằm ở bản thân công trình. Điều mà hàng trăm nghìn người dân phải từ biệt không đơn thuần là nhà cửa hay ruộng đất, mà còn là mảnh đất chôn rau cắt rốn của họ, là phương thức sinh kế mà họ đã dựa vào suốt bao đời, và cả ký ức của nhiều thế hệ gia đình. Vì vậy, để thực sự hòa nhập với quê hương mới, điều cần thiết không chỉ là sự hỗ trợ và bồi thường từ phía chính quyền, mà còn là sự đối xử bình đẳng của cộng đồng địa phương, cùng với sự cần mẫn, lòng dũng cảm của chính những người di dân và cả một khoảng thời gian dài thích nghi.

丹江口水库水位抬升后,受到淹没威胁的除了村庄和农田,还有214处文物保护点,这当中就包括世界文化遗产武当山古建筑群重要组成部分——遇真宫。它建于明朝永乐年间,距今已有近600年历史。

Sau khi mực nước hồ chứa Đan Giang Khẩu được nâng cao, không chỉ các làng mạc và đất nông nghiệp đứng trước nguy cơ bị nhấn chìm, mà còn có 214 địa điểm di tích văn hóa bị đe dọa, trong đó có Cung Ngộ Chân, một bộ phận quan trọng của quần thể kiến trúc cổ trên núi Vũ Đương, một Di sản Văn hóa Thế giới. Công trình này được xây dựng vào thời Vĩnh Lạc của triều Minh, đến nay đã có lịch sử gần 600 năm.

1967年丹江口水库初次蓄水时,武当山古建筑群中的净乐宫,就因技术限制永远地被淹没在水底。40多年后,遇真宫绝不能重蹈覆辙。人们提出原址垫高、围堰和异地搬迁三种保护方案,最后采用了原址垫高的方案。

Năm 1967, khi hồ chứa Đan Giang Khẩu tích nước lần đầu tiên, Cung Tịnh Lạc, một công trình thuộc quần thể kiến trúc cổ núi Vũ Đương, đã vĩnh viễn chìm dưới đáy nước do những hạn chế về kỹ thuật lúc bấy giờ. Hơn bốn mươi năm sau, Cung Ngộ Chân tuyệt đối không thể lặp lại. Người ta đã đề xuất ba phương án bảo tồn: nâng cao nền tại chỗ, xây đê quây bảo vệ và di dời đến địa điểm khác. Cuối cùng, phương án nâng cao nền tại chỗ đã được lựa chọn.

该方案首先是将遇真宫现存的主体建筑和宫墙整体拆除,构件拆卸后标记存放,待地面垫高后予以复原。然后将山门和东、西宫门三座建筑,从地面整体抬升15米。从2011年经国家文物局批复同意施工,到2019年通过工程技术性验收,遇真宫垫高保护工程耗时长达近9年,是南水北调工程中保护级别最高、单体投资额度最大的文物保护项目。

Theo phương án này, trước hết toàn bộ các công trình kiến trúc chính và tường cung hiện còn của Cung Ngộ Chân được tháo dỡ, từng cấu kiện được đánh dấu và bảo quản cẩn thận, chờ sau khi nền đất được nâng cao sẽ tiến hành phục dựng. Tiếp đó, ba công trình gồm cổng chính và hai cổng Đông, Tây được nâng nguyên khối lên 15 mét so với mặt đất. Từ khi được Cục Di sản Văn hóa Quốc gia Trung Quốc phê duyệt thi công vào năm 2011 cho đến khi vượt qua nghiệm thu kỹ thuật vào năm 2019, dự án bảo tồn Cung Ngộ Chân bằng phương án nâng nền đã kéo dài gần 9 năm, trở thành dự án bảo vệ di tích có cấp độ bảo tồn cao nhất và mức đầu tư cho một đơn thể di tích lớn nhất trong toàn bộ Dự án Dẫn nước từ Nam ra Bắc.

在南水北调东线和中线工程沿线,总共涉及710处文物,这让此项庞大的调水工程也成为一项规模空前的文物保护工程。从规划到施工,为了保护沿途文物,工程历经多次让路、改线,沿线区域的考古调查和紧急发掘从未停止,其中有多个考古项目先后被列为全国十大考古新发现”​

Trên toàn tuyến Đông và tuyến Trung của công trình, có tổng cộng 710 di tích văn hóa liên quan. Điều này khiến dự án điều chuyển nước khổng lồ này đồng thời trở thành một công trình bảo tồn di sản văn hóa có quy mô chưa từng có. Từ giai đoạn quy hoạch đến thi công, để bảo vệ các di tích dọc tuyến, công trình đã nhiều lần phải điều chỉnh hướng tuyến và thay đổi phương án thiết kế. Các hoạt động khảo sát khảo cổ và khai quật khẩn cấp trên toàn tuyến chưa từng gián đoạn, trong đó nhiều dự án khảo cổ đã được bình chọn là “Mười phát hiện khảo cổ học mới tiêu biểu của Trung Quốc”.

20131114日,距离中线工程正式通水还有不到400天,在丹江口水库下游约400千米处,一座横亘于汉江之上的水利工程竣工,即兴隆水利枢纽。不到一年后,在其下游不远处,一条从西南方向延伸而来的水渠将长江之水输送到这里,每年约有30亿立方米的长江水注入汉江河道,这就是引江济汉工程。

Ngày 14 tháng 11 năm 2013, khi chỉ còn chưa đầy 400 ngày nữa là tuyến Trung chính thức dẫn nước, một công trình thủy lợi bắc qua sông Hán, cách hạ lưu hồ chứa Đan Giang Khẩu khoảng 400 km, đã hoàn thành. Đó là Công trình đầu mối thủy lợi Hưng Long. Chưa đầy một năm sau, tại khu vực không xa phía hạ lưu của công trình này, một tuyến kênh kéo dài từ hướng Tây Nam đã đưa nước sông Trường Giang đến đây. Mỗi năm có khoảng 3 tỷ m³ nước từ sông Trường Giang được bổ sung vào dòng chảy của sông Hán. Đó chính là Công trình Dẫn nước từ Trường Giang để bổ sung cho sông Hán.

作为南水北调配套建设的生态补偿工程,这两项工程为避免南水北调中线工程调水导致汉江下游水位降低,进而影响两岸农田灌溉和流域生态,做出了重要贡献。通过上游蓄水和下游补水,汉江上游的灌溉面积增加了60%以上,下游多年平均水位抬高了0.15~ 0.30米。

Là những công trình bù đắp sinh thái được xây dựng đồng bộ với Dự án Dẫn nước từ Nam về Bắc, hai công trình này đã đóng góp quan trọng trong việc ngăn chặn tình trạng mực nước hạ lưu sông Hán suy giảm do tuyến Trung điều chuyển nước, từ đó hạn chế ảnh hưởng đến hoạt động tưới tiêu của đất nông nghiệp hai bên bờ và hệ sinh thái của toàn lưu vực. Thông qua việc tích nước ở thượng nguồn và bổ sung nước cho hạ nguồn, diện tích đất được tưới tiêu ở thượng lưu sông Hán đã tăng hơn 60%, trong khi mực nước trung bình nhiều năm ở hạ lưu được nâng lên từ 0,15 đến 0,30 mét.

当流入华北的滔滔江水带来新机遇时,很少有人会注意到,南水北调已不仅仅是一项输水工程,而是涵盖污染治理、水源保护、移民安置、文物保护、生态补偿等诸多配套的一项系统性工程。

Khi những dòng nước cuồn cuộn chảy vào Hoa Bắc mang theo những cơ hội phát triển mới, ít ai nhận ra rằng Dự án Dẫn nước từ Nam về Bắc từ lâu đã không còn đơn thuần là một công trình chuyển nước. Đó là một công trình mang tính hệ thống, bao gồm hàng loạt hạng mục đồng bộ như xử lý ô nhiễm, bảo vệ nguồn nước, tái định cư dân cư, bảo tồn di sản văn hóa và bù đắp sinh thái./.

 

 

编译 Biên dịch: Bùi Thị Tiệp (裴碧捷)

校对 Hiệu đính: 冯超 (Phùng Siêu)

排版 Sắp chữ: 穆锦怡 (Mục Cẩm Di)

源自:这里是中国2 -  南水北调 超级工程,谈何容易 - 星球研究所 - 微信读书

Nguồn tin: Đây là Trung Quốc 2 - ② Than đá - 60% nguồn năng lượng của Trung Quốc - Viện Nghiên cứu Hành tinh - WeChat Reading

Chia sẻ:

Liên hệ chúng tôi

Trung tâm báo chí, Phòng Tuyên truyền Đảng ủy SISU

Tel : +86 (21) 3537 2378

Email : news@shisu.edu.cn

Address :550 phố Đại Liên Tây, Thượng Hải, Trung Quốc

Tin cũ